Thứ Tư, 20 tháng 3, 2013

Hiến pháp là gì ?

Cao Huy Thuần - Giáo sư đại học (Pháp)

Montesquieu
Trước hết, tôi xin bày tỏ tình cảm đặc biệt của tôi đối với các trí thức, nhân sĩ, bạn bè đang bàn luận sôi nổi về hiến pháp ở trong nước và ngoài nước. Trong tình cảm liên đới đó, và ý thức rằng đây là vấn đề có liên quan đến sự tồn vong của đất nước, tôi xin có đôi lời góp ý vào quan tâm chung, với tư cách của một người làm nghề dạy học, không biết gì nhiều hơn là chút kiến thức trường ốc phổ thông. Tôi cố tránh mọi lý thuyết rườm rà, duy nhất hạn chế vào một câu hỏi thôi, câu hỏi đầu tiên của mọi câu hỏi khác: hiến pháp là gì?


Tôi biết: trong thế giới ngày nay, hầu như nước nào cũng có hiến pháp, càng độc tài hiến pháp của họ lại càng hay, càng đầy mơ ước, càng đậm triết lý, càng rộng mở ra nhiều lĩnh vực "hiện đại" - xã hội, môi trường, sinh thái... Chính vì vậy mà tôi phải lấy lập trường trước khi đi vào đề: tôi đứng ở đâu mà nói chuyện, đứng trong thế giới văn minh hay lạc hậu hằng mấy thế kỷ? Chẳng lẽ tôi đi ngược lại khẩu hiệu của nước ta là một nước "văn minh"? Bởi vậy, tôi quyết định đứng trong thế đứng của một người dân trong một nước văn minh để gạt ra khỏi đề tài mọi chuyện hoa lá cành chẳng có liên quan gì đến việc định nghĩa hiến pháp trong bước đi đầu tiên của lịch sử đã hình thành ra khái niệm văn minh này. Từ đó, mỗi nước có thể hiểu theo cách hiểu của họ về hiến pháp, tùy hoàn cảnh lịch sử riêng biệt. Nhưng đã gọi là "hiến pháp" thì đương nhiên không thể không biết nguồn gốc của nó, ý nghĩa nguyên thủy của nó, tinh túy của nó. Nhân loại học văn minh của nhau là chuyện bình thường của mọi xã hội văn minh.

Vậy thì, ý nghĩa nguyên thủy của hiến pháp là gì? Ai cũng biết câu trả lời: nguồn gốc của nó nằm trong hai Cách Mạng, của nước Pháp và nước Mỹ.


Trước hết là nước Pháp. Thật ra, danh từ "constitution" - mà ta dịch là hiến pháp - đã có từ lâu, ngay dưới thời Trung cổ, nhưng không mang ý nghĩa như sẽ có về sau. Cho đến Cách Mạng 1789, nước Pháp sống dưới chế độ quân chủ, với ông vua có toàn quyền, nhưng ngay từ trong lý thuyết, quyền của ông gặp phải một hạn chế: ông phải tuân theo những "luật căn bản của vương quốc". Các luật này rất hiếm, và hồi đó chưa có phương thức gì cụ thể để buộc ông phải tuân theo, nhưng trên thực tế, chế độ quân chủ ở Pháp không đến nỗi "tuyệt đối" như ta nghĩ, và ngay cả ông vua đã từng tuyên bố "Quốc Gia là Trẫm" - Louis 14 - so với các nhà độc tài ngày nay hãy còn nhẹ ký lắm. Ngoài những "luật căn bản của vương quốc" mà quan trọng nhất là sự thỏa thuận của dân chúng về thuế má, quyền hành "tuyệt đối" của ông vua còn gặp phải một vài giới hạn khác do sự hiện diện của một vài định chế phong kiến nằm trung gian giữa vua và dân: các hội đoàn, đoàn thể nghề nghiệp, các thành phố... mà tập tục cổ truyền đã trao cho những đặc quyền, và những đặc quyền ấy được sử dụng một cách bền bỉ, dai dẳng, đối kháng với quyền của vua. Hơn nữa, các Tòa Án cũng có một quyền đặc biệt, từ đó mà dần dần phát triển lên thành quyền chính trị: đó là quyền đăng bạ những sắc dụ của ông vua; sắc dụ chiếu chỉ chỉ được thi hành sau khi được đăng bạ. Các ông Tòa không do vua bổ nhiệm nên vua không áp đảo được họ; cái chức vị ấy là họ mua. Đồng tiền ban chức tước, nhưng đồng tiền cũng ban độc lập mà họ cực lực bảo vệ để trở thành một quyền thực sự. Cuối cùng, tập tục buộc ông vua phải được sự thỏa thuận của một cơ quan thực sự đại diện của dân, một Đại Hội đại biểu tập hợp ba giai tầng xã hội: tăng lữ, quý tộc, bình dân. Dù cho Đại Hội này không được triệu tập từ 1614 đến 1789, trên lý thuyết, sự thỏa thuận vẫn là nguyên tắc mà quân quyền không chối bỏ.


Vậy thì, trong thời gian tiền Cách Mạng, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp dai dẳng, tuy chẳng quân bình, giữa ông vua và các cơ quan đối trọng mà quan trọng nhất là các Tòa Án. Ông vua xác quyết chủ quyền tuyệt đối của mình; các nhà luật học tiến bộ nhấn mạnh trên sự thỏa thuận để cai trị. Họ nói: thỏa thuận có nghĩa là ông vua không được đứng trên luật pháp, và do đó quyền của ông vua không phải tuyệt đối mà là có giới hạn. Nói một cách khác, nước Pháp ở trong cái thế tranh chấp giữa chủ thuyết quyền tuyệt đối của vua và chủ thuyết hiến pháp, hiến định. Trong tranh chấp lý thuyết đó, bên nào cũng viện dẫn "hiến pháp quân chủ", nhưng một bên nhấn mạnh quân chủ, một bên nhấn mạnh hiến pháp, chính sự dằng co giữa hai quyền lực, của vua và của Tòa Án, diễn tả bản chất của hiến pháp lúc đó. Ngã hẳn về phía vua chăng? Vua sẽ thành chuyên chế. Ngã hẳn về phía các Tòa Án chăng? Ông vua sẽ không hơn gì vua nước Anh, có tiếng mà không có miếng. Trên thực tế, mặc dầu cố gắng của các nhà luật học, nước Pháp đã không đi vào được con đường hạn chế quyền lực thực sự như ở Anh hồi thế kỷ 17. Các Tòa Án, cũng như Đại Hội đại biểu ba thành phần, không đủ sức để vượt qua quyền của vua. Nhưng đặc tính dằng co vẫn được duy trì kể cả trong lý thuyết, ngay cả về phía các lý thuyết gia chính thống của quân quyền. Jean Bodin, cực lực thuyết minh chủ quyền của vua là thế, mà cũng không diễn dịch "hiến pháp quân chủ" như là độc đoán, độc tài, cũng phân biệt "quân chủ vương giả" khác với quân chủ "bạo ngược", cũng nói rõ "quyền lực tuyệt đối" không phải là "quyền lực tùy tiện".


Montesquieu, khái niệm "hiến pháp" gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh.
Chính trong bối cảnh chính trị của một nước Pháp quân chủ, hạn chế trên thực tế nhưng vẫn tuyệt đối trên lý thuyết, mà tác phẩm "Tinh yếu của luật pháp" ("Esprit des lois") của Montesquieu ra đời, đánh dấu một bước ngoặt quyết định trong lịch sử của khái niệm hiến pháp. Từ đây, từ năm 1748, danh từ "hiến pháp" mới thực sự có ý nghĩa hiện đại. Điểm đầu tiên phải lưu ý là Montesquieu xây dựng một lý thuyết tự do trong một không khí quyền lực tuyệt đối. Tự do là bà mẹ trong tác phẩm. Nhưng, như ông nói, tác phẩm không được sinh ra từ một bà mẹ tự do. Đó chính là điểm đặc sắc tuyệt cú của Montesquieu. Với Montesquieu, khái niệm "hiến pháp" gắn liền với ý tưởng tự do và phân quyền mà ông suy ra và sáng tạo thêm từ chế độ chính trị của nước Anh. Chương 11 của tác phẩm ghi rõ trong tiêu đề: "Về những luật tạo nên tự do trong mối tương quan giữa tự do và hiến pháp". Tương quan gì? Chỉ có tự do khi hiến pháp hạn chế quyền lực. Không ai không biết câu viết này, sáng chói như chân lý, ngọn hải đăng của thế kỷ 18: "Kinh nghiệm muôn thuở cho biết bất cứ ai có quyền lực đều có khuynh hướng lạm dụng quyền lực; lạm dụng cho đến mức gặp phải giới hạn". Vậy vấn đề là phải đặt ra giới hạn. Phân quyền nhắm mục đích ấy, bởi vì, lại một chân lý nữa, "quyền lực ngăn chận quyền lực" để quyền lực không nằm trọn trong một nắm tay.

Vậy, với Montesquieu, hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị: hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp.

Với Montesquieu, hiến pháp mang một ý nghĩa chính trị: hiến pháp tổ chức nhiều quyền lực trong nhà nước và tương quan giữa các quyền lực đó với nhau để quyền lực, một hiện tượng đáng sợ, trở thành ôn hòa. Một chính thể ôn hòa là một chính thể tốt nhất, như Aristote đã quan niệm từ thời cổ đại Hy Lạp.
Tác phẩm của Montesquieu làm dấy lên cả một trào lưu trí thức nâng danh từ "hiến pháp", từ chỗ chưa có ý nghĩa rõ ràng, lên địa vị vinh quang của khái niệm, đề tài của mọi tranh luận, mục tiêu của mọi tranh đấu nhắm hạn chế quyền hành. Sau 1750, các Tòa Án ở Pháp tận dụng quyền phản biện (droit de remontrances) sẵn có để bày tỏ ý kiến về các sắc dụ chiếu chỉ của vua và để bảo vệ những quyền căn bản mà họ không còn xem như của vương quốc nữa mà là của cả dân tộc và chính họ là cơ quan nắm giữ. Trong một phản biện của Tòa Án Rennes năm 1757, quyền của vua và quyền của các Tòa Án được diễn tả trong ý nghĩa mới đó của "hiến pháp": "Do một quyền thiêng liêng có sẵn nơi địa vị của Hoàng Thượng, bất khả truyền, bất khả trao cho ai khác, Hoàng Thượng là nguồn gốc của mọi pháp chế. Nhưng do một hiến pháp căn bản của nền quân chủ, Tòa Án của Hoàng Thượng là hội đồng cần thiết để luật được kiểm tra, là cơ quan để luật được ban hành, là người bảo đảm cho sự minh triết của luật, là nơi đăng bạ để duy trì và thi hành luật, bởi vì từ xưa đến nay Tòa Án là người cộng sự thiết yếu của Hoàng Thượng, nhờ đó việc cai trị được văn minh và gìn giữ".

Cùng với quan niệm mới về hiến pháp của Montesquieu, các Tòa Án nới rộng phạm vi của những "luật căn bản" và định nghĩa như là "những luật liên quan đến việc tổ chức các quyền trong chế độ quân chủ". Một tác giả quý tộc - marquis d'Argenson - dám so sánh ví von thế này: "Dân tộc ở trên các ông vua như Nhà Thờ công giáo ở trên giáo hoàng". "Luật căn bản", "hiến pháp", "quyền của Dân Tộc", các yếu tố đó trộn lẫn với nhau trong một luận thuyết nhằm chống lại luận thuyết quyền lực tập trung của vua. Từ "hiến pháp" càng ngày càng được dùng trong tranh luận, với ý nghĩa chính trị như đã nói ở trên, "như là một dụng cụ có khả năng giới hạn vương quyền để bảo vệ một trật tự siêu việt vương quyền".Tòa Án có mặt từ lâu trong lịch sử nhưng bây giờ mới cố gắng nâng mình lên trong thử thách để hiện diện như là đối trọng của vương quyền. Ý niệm đối trọng dần dần đi vào ý nghĩa của hiến pháp.


Tuy vậy, tất cả những tranh luận lý thuyết và thử thách thực tế trên đây vẫn không làm lung lay được một vương quyền cứng rắn. Khái niệm hiến pháp thay đổi, nhưng vẫn mang ý nghĩa chính trị, chưa được diễn dịch cụ thể ra thành ngôn ngữ luật pháp có khả năng tạo nền móng cho những quyết định pháp lý. Khác với nước Anh mà tập tục chính trị dần dần được thay đổi để chế độ quân chủ đổi mới trong ôn hòa, ở Pháp, cánh cửa không mở ra được vì vương quyền khóa chốt. Các Tòa Án nại quyền của Dân Tộc? Ông vua trả lời Ta đây, và chỉ Ta đây mới có quyền bảo vệ những "luật của lịch sử". Một bên là hiến pháp trong nghĩa tự do của Montesquieu, một bên là những "luật căn bản của vương quyền" diễn dịch theo điệp khúc cũ. Để ý nghĩa chính trị của hiến pháp có được nội dung pháp lý hữu hiệu, phải đợi 1789. Thế thôi, có ai bao giờ đoán trước được Cách Mạng sẽ đến đâu? Ai đoán trước được ông vua toàn quyền thế kia - Louis 16 - có ngày mất tiêu cái chỗ đội mũ - đội vương miện?


Với Cách Mạng 1789, một lý thuyết gia lừng lẫy khác, Sieyès, giải quyết tranh chấp giữa "hiến pháp" và "những luật căn bản của vương quyền" một cách trọn vẹn và cách mạng. Ông giải quyết bằng cách từ bỏ luận cứ quyền lịch sử để lập luận trên quyền thiên nhiên. Từ đây, tranh luận lý thuyết không còn xoay quanh giữa quyền "tuyệt đối" và quyền "tùy tiện" nữa, mà tập trung trên "chính thể hiến pháp" và "quyền bính chuyên chế": một bên có giới hạn do hiến pháp định, một bên vô giới hạn. Từ đây, hiến pháp có thêm một nội dung luật pháp để cụ thể hóa ý nghĩa chính trị. Biến chuyển này xảy ra được một phần lớn là nhờ ảnh hưởng của Cách Mạng Mỹ. Mười ba thuộc địa của Anh ở châu Mỹ nổi dậy giành độc lập, xây dựng một chế độ chính trị riêng, ghi nhận long trọng trong một văn bản được chấp thuận năm 1787 ở Đại Hội đại biểu Philadelphia. Đứng về phương diện khái niệm hiến pháp mà nói, họ nổi dậy chống lại cái gì cụ thể? Chống lại một số luật bất công, nhất là luật thuế má, của Quốc Hội Anh mà họ cho là trái với các hiến chương thuộc địa. Để chống lại các luật đó, họ nảy ra cái tư tưởng này: có các quyền không thể sửa đổi được, các quyền đó phải được ghi rõ trong một thứ luật khác cao hơn, tức là hiến pháp thành văn, có hiệu lực pháp lý, nghĩa là bắt buộc. Đừng quên rằng trong thời gian ấy, mẫu quốc của họ là nước Anh, và nước Anh chỉ có một thứ luật thôi là luật do Quốc Hội làm ra, không có hiến pháp thành văn. Làm luật được thì sửa đổi luật cũng được. Bởi vậy, cái ý nghĩ phải có một thứ luật cao hơn mọi luật khác, được ghi chép hẳn hoi thành văn bản, là ý nghĩ cách mạng, đưa khái niệm hiến pháp vào thời đại mới. Ý nghĩ đó bay ngược qua Đại Tây Dương, hạ cánh xuống Cách Mạng Pháp, giải quyết rốt ráo tranh chấp giữa "hiến pháp" và "những luật căn bản của lịch sử". Cả hai khái niệm được trộn lẫn với nhau thành một trong một văn bản, được soạn thảo và chấp nhận một cách đặc biệt, văn bản ấy luật hóa một khái niệm trước đây còn mang tính chính trị.

"Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật".
                                Thomas Payne
Ngày nay, ta khó thấy ý nghĩ đó là tuyệt tác vì đã quá quen với cái từ "hiến pháp". Lúc đó, từ "hiến pháp" hãy còn lẫn lộn với từ "chính phủ", "chính quyền", hai bên không khác nhau cho đến trước ngày Cách Mạng Mỹ. Một nhân vật quý tộc Pháp, trong một thư viết cho vua, đã thốt ra một câu tiêu biểu: "Làm sao người ta có thể đồng thời vừa là bạn của chính quyền vừa là kẻ thù của hiến pháp được?" Từ đây, gió lốc cách mạng thổi bay từ "gouvernement" ra khỏi từ "constitution". Yêu vợ không phải là yêu bồ. Hai vợ không phải đều là vợ cả. Thomas Payne, lý thuyết gia nổi bật của Cách Mạng Mỹ, nói rõ: "Hiến pháp là một văn bản không phải của chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền, và một chính quyền không có hiến pháp là một chính quyền không có luật". Ông nhắc lại lần nữa: "Một hiến pháp là một điều có trước chính quyền, và một chính quyền chỉ là con đẻ của một hiến pháp. Hiến pháp của một nước không phải là văn bản của một chính quyền mà là của dân chúng tạo ra một chính quyền".
Chủ quyền đã thuộc về dân thì việc làm ra hiến pháp không phải là việc của một cơ quan nào mà là việc của toàn dân: từ đó lý thuyết về một "quyền lập hiến" được chế ra thành luật.
Giữa hai bờ Đại Tây Dương, khái niệm hiện đại về hiến pháp thành hình nhờ ảnh hưởng qua lại giữa Montesquieu và Cách Mạng Mỹ. Montesquieu ngại quyền lực. Các thuộc địa ở Mỹ, ngay từ hồi nổi dậy, cũng đã nhìn quyền lực như thế qua ông vua George III, tuy rằng hồi đó vua đã bắt đầu mất thực quyền trong chế độ chính trị nước Anh. Cũng từ Montesquieu, lý thuyết phân quyền được thực hiện tại Mỹ, và áp dụng chặt chẽ hơn cả ở châu Âu vì Quốc Hội không thể buộc Tổng Thống từ chức, Tổng Thống không thể giải tán Quốc Hội. Ngược lại, từ Mỹ, việc luật hóa lý thuyết chủ quyền thuộc về toàn dân ảnh hưởng trên tư tưởng của Sieyès. Chủ quyền đã thuộc về dân thì việc làm ra hiến pháp không phải là việc của một cơ quan nào mà là việc của toàn dân: từ đó lý thuyết về một "quyền lập hiến" được chế ra thành luật. Sieyès tóm tắt: "Hiến pháp bao gồm đồng thời: việc thành lập và tổ chức nội bộ các quyền lực khác nhau của nhà nước, mối tương quan tất yếu và sự độc lập giữa các quyền lực đó, và cuối cùng, những cảnh giác chính trị phải cẩn thận xây dựng chung quanh, để các quyền lực đó lúc nào cũng có ích lợi nhưng không bao giờ trở thành nguy hiểm. Đó là ý nghĩa chính xác của danh từ hiến pháp; ý nghĩa đó liên quan đến toàn thể quyền lực của nhà nước và sự phân chia những quyền lực đó".

Từ đầu, ý tưởng của Montesquieu đã liên hệ rõ ràng khái niệm hiến pháp với khái niệm quyền lực hạn chế để chống lại quyền hành tuyệt đối, nghĩa là vô giới hạn và tùy tiện. Đến đây, việc phân quyền được xây dựng thành những nguyên tắc thành văn, tối thượng, mà mục đích là thiết lập những giới hạn minh bạch, ai cũng biết, về quyền lực của người cầm quyền. "Nếu quyền lực không có giới hạn, quyền lực tất yếu trở thành tùy tiện, và không có gì trực tiếp đối chọi với một hiến pháp bằng bạo quyền", Mounier đã phát biểu như thế trong diễn văn đọc ngày 7-7-1789 trước Hội Đồng Lập Hiến. Ông là đại biểu lừng danh của giai cấp bình dân. Tư tưởng đó được viết chắc nịch như đinh đóng cột trong điều 16 của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền: "Bất cứ xã hội nào trong đó các quyền không được bảo đảm và sự phân quyền không được tôn trọng, xã hội đó không có hiến pháp".


Tác giả bài này muốn nói gì khi nhắc lại những kiến thức phổ thông trên đây? Duy nhất điều này thôi: lịch sử của khái niệm hiến pháp bắt đầu từ một khao khát: tự do; khao khát đó sẽ không bao giờ thực hiện được trước một quyền lực tuyệt đối; để quyền lực không phải là bạo lực, phải phân quyền; để sự phân quyền được rõ ràng, minh bạch, phải ghi thành luật, luật đó là tối thượng, là mẹ của mọi thứ luật khác. Nghĩa là: để định nghĩa hiến pháp là gì, đừng quên rằng bắt đầu quá trình là một ý tưởng chính trị và kết thúc là một văn bản luật pháp, từ đó mà quyết định cái gì là hợp pháp, cái gì là bất hợp pháp trong mọi hành động lập pháp và lập quy của các cơ quan nhà nước. Chỉ một ý đó thôi mà tác giả đã lặp đi lặp lại bao nhiêu lần: Hiến pháp là một ý tưởng chính trị được luật hóa vào một giai đoạn quan trọng nào đó của lịch sử để một trật tự chính trị trở thành chính đáng. Điều này bao gồm hai ý nghĩa: thứ nhất, trật tự chính trị nào cũng mượn danh nghĩa luật để trở thành một trật tự pháp lý; nhưng thứ hai, không luật pháp nào ban tính chính đáng cho một trật tự chính trị nếu luật đó không xuất phát từ nguyện vọng đích thực của nhân dân.

°°°

Hơn một thế kỷ rưỡi sau Cách Mạng, nước Pháp có ông tổng thống De Gaulle làm một hiến pháp mới - hiến pháp hiện tại - để chấm dứt một trật tự chính trị cũ, lập một trật tự chính trị mới, mở đầu Đệ Ngũ Cộng Hòa. Trong một cuộc họp báo quan trọng ngày 31-1-1964, ông định nghĩa hiến pháp trong một câu nổi tiếng: "Hiến pháp là một tinh thần, những định chế, một thực tiễn". Quá đúng. Và bộc lộ ra được những gì tôi vừa trình bày ở trên.

Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt dưới một câu hỏi: "hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần gì vậy?" Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của ai.
Một thực tiễn? Tất nhiên, vì hiến pháp phải được áp dụng để trở thành luật nói, nếu không thì là luật câm. Những định chế? Hiển nhiên, khỏi cần nói. Tôi chú trọng mấy chữ đầu: "một tinh thần". Vậy tinh thần này là gì trong bối cảnh lịch sử đã làm hình thành hiến pháp ở Pháp và ở Mỹ? Tự do! Tinh thần này quyết định tất cả. Quyết định việc thành lập các định chế. Quyết định thực tiễn của pháp luật, cả luật mẹ lẫn luật con. Bất cứ hiến pháp nào trên thế giới đều có thể được đặt dưới một câu hỏi: "hiến pháp này được làm ra để thể hiện cái tinh thần gì vậy?" Dân chúng chỉ cần biết cái tinh thần ấy một cách tỏ tường và chân thật là đã có thể phát biểu ngay đó là hiến pháp của mình hay của ai.

Vậy thì dân chúng Việt Nam chờ đợi cái tinh thần gì được luật hóa trong hiến pháp? Một tinh thần phù hợp với giai đoạn hòa bình của đất nước, sau nhiều năm chiến tranh đòi hỏi con người phải hy sinh nhiều thứ, kể cả thứ quý nhất trong đời là tự do. Chiến tranh là tình trạng bất thường, hòa bình là chấm dứt tình trạng bất thường, là phải trả lại cho con người cái khao khát bức thiết nhất của con người ở muôn thuở và muôn nơi, là phải trả lại cho con người Việt Nam cái giá đã mua bằng máu, là phải thực hiện lời cam kết chói lọi trong Tuyên ngôn độc lập vinh quang: ai cũng biết, đó l�"quyền tự do". "Không có gì quý hơn độc lập, tự do": đó là tinh thần mà người dân chờ đợi luật hóa trong hiến pháp, một hiến pháp hoàn toàn mới, phù hợp với giai đoạn mới, giai đoạn hòa bình.


Tinh thần là như vậy, định chế sẽ thế nào? Tất cả những gì tôi nói trong bài này có thể tóm gọn trong hai chữ: ôn hòa. Quyền lực phải biết ôn hòa. Chính thể ôn hòa là chính thể tốt nhất. Đó là văn minh mà Âu châu thừa hưởng từ tư tưởng của Hy Lạp cổ đại. Montesquieu cũng chỉ là tiếp nối tư tưởng Aristote. Nhưng đó cũng chính là văn minh của Việt Nam, của tư tưởng Việt Nam, không hề độc đoán.


Đảng Cộng sản đã nhiều lần nêu vấn đề định nghĩa lại lãnh đạo. Đúng vậy, nhưng thế này thì hợp với mong mỏi hơn: định nghĩa lại lãnh đạo là thế nào để phù hợp với thời bình, thế nào để thực hiện lời cam kết "quyền tự do". Đó là cứu cánh của chính trị. Đó là cứu cánh của quyền lực. Một quyền lực ôn hòa trong thời bình, khác với thời chiến tranh, khác với thời tranh đấu bí mật trước mùa Thu tháng Tám. Đó là tinh thần mới phải có trong hoàn cảnh mới của đất nước, cần thực sự đoàn kết toàn dân. Tinh thần đó sẽ quyết định tất cả mọi điều khác trong hiến pháp. Tinh thần đó, người dân khao khát chờ đợi từ lâu để được là tác giả của hiến pháp mới.
Dưới ảnh hưởng đó của tư tưởng luật hóa hiến pháp đến từ Mỹ, từ ngữ "luật căn bản" của Pháp được ngôn ngữ luật đưa lên địa vị tối thượng: hiến pháp là luật tối thượng, nghĩa là, rất cụ thể, cao hơn tất cả các luật khác và làm vô hiệu tất cả luật nào trái lại. Đây cũng là một sáng tạo tuyệt tác bắt nguồn từ một sự việc bình thường trước Tòa Án Tối Cao của Mỹ. Ông Marburry, được bổ nhiệm thẩm phán nhưng chờ mãi đến đáo hạn mà vẫn không nhận được giấy tờ bổ nhiệm. Ông kiện tổng thống Adams (mà người đại diện là bộ trưởng Madison) đòi gửi công văn bổ nhiệm. Ông Tòa Marshall xử rằng: kiện là đúng, nhưng đạo luật được viện dẫn ra để kiện là không hợp với hiến pháp, là vi hiến. Chuyện bình thường ở Mỹ. Nhưng là chuyện động trời trong lịch sử hiến pháp của Pháp vì Tòa Án dám xía vào lĩnh vực lập pháp để phán đúng hay sai. Cần nhấn mạnh vụ kiện danh tiếng Marburry chống Madison này ở đây để hiểu quá trình luật hóa hiến pháp và sức mạnh của tinh thần trọng pháp. Mười ba thuộc địa ở Mỹ phải nổi dậy để đòi truất bỏ những luật bất công. Khổng Mạnh ở ta ngày xưa cũng lao xao với sĩ tử rằng nước có thể lật thuyền... Suy diễn bài học từ ông Tòa Marshall, luật pháp có chức năng và khả năng giải quyết tranh chấp chính trị một cách hòa bình, khỏi cần gươm dáo, mà cũng khỏi phải lội nước lật thuyền.

Chú thích:
Một số câu trích dẫn đặt trong ngoặc kép là lấy từ: Olivier Beaud, L'Histoire du concept de constitution en France. De la constitution politique à la constitution comme statut juridique de l'Etat, Jus politicum, Vol. 2, Juin 2010.

Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”

Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

Toà nhà quốc hội Đức.
Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?”*, tác giả Phạm Thị Hoài đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”.
Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức (trích): Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.

Năm 1990, trong quy trình thống nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới”, (Hết trích).

Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”. Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp. Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên “Grundgesetz” và gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật, bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội hàm khái niệm “Luật cơ bản” và nội hàm “Hiến pháp”. Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm phạm - tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là “Luật Cơ bản”, còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo “Phúc quyết” thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý, tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức, nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.

Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế, cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà bình để vượt qua nó.

Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp”.

Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến pháp.

Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản
Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.
Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân” đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.

Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lý giải trong “Báo cáo Thuyết minh”: “Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp”. Từ mục đích đó, DTHP có nhiệm vụ “làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân…”.

Đã là quyền con người thì do “tạo hoá” sinh ra nằm trong chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm, yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng dân chủ tiến bộ ưu việt.

Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới 48 điều về “quyền và tự do của con người và của công dân”, chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ 138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15 điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính, xếp thứ 17.

Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, “lẽ phải không ai chối cãi được”, nhưng một khi quyền lực nhà nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân Pháp “mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” đến nước ta tuyên bố “khai hoá văn minh”, nhưng thực tế lại “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)” hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực hiện quyền đó.

Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm “hạt cơ bản” trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác, quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp, khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được thực hiện.

Có thể hiểu qua ví dụ về “quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp Đan Mạch quy định tại điểm (1): “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ”. Ở Đức, xuất phát từ Điều 1, Luật Cơ bản, “nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà nước”, Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người (năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà, được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí 600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến định.

Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt, khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.

Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm “khẳng định giá trị, vai trò”, “nội dung quyền con người”, nên Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, không hề quy định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi, như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống bình thường.

Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản, nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như Điều 38 DTHP: “Công dân có quyền làm việc”, họ không thể hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt. Điều 40 “trẻ em có quyền... được chăm sóc giáo dục”, họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự, Điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ” (nghĩa là trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá” (nhà nước miễn phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (trách nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?), Điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (nhà nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn” (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.

Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến pháp quyền cơ bản “có tài khoản ngân hàng”, dự kiến thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản một khi đã hiến định là được thực thi.

Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.

Do đó liên quan đến hiến pháp nói chung, có mấy vấn đề cần được lưu ý:

Thứ nhất, mặc dù có tầm quan trọng, không phải quốc gia nào trên thế giới cũng có hiến pháp thành văn. Ít nhất ba nước không có: Anh, New Zealand và Do Thái. Nhưng hầu như không ai nghi ngờ tính chất dân chủ ở ba nước ấy cả. Như vậy, vấn đề không phải là văn bản hay văn kiện. Vấn đề chính là sự tôn trọng của mọi người, từ giới cầm quyền đến dân chúng, đối với những nguyên tắc pháp quyền và dân chủ nói chung.

Thứ hai, không phải hiến pháp nào dài dòng và rườm lời là hay. Bản hiến pháp cổ nhất thời hiện đại và cũng là mẫu mực cho hiến pháp của hầu hết các quốc gia khác là của Mỹ. Được viết năm 1787, thông qua năm 1788 và có hiệu lực từ năm 1789, đó là bản hiến pháp ngắn nhất thế giới: nó chỉ có 4.543 từ (trong đó chữ “dân chủ” – democracy- không hề xuất hiện). Trong khi đó bản hiến pháp của Ấn Độ dài đến 117.369 từ (căn cứ trên bản tiếng Anh), được xem là bản hiến pháp của quốc gia dài nhất trên thế giới (ở một số nước, như Mỹ, một số tiểu bang cũng có hiến pháp riêng. Ở phạm vi tiểu bang, hiến pháp của tiểu bang Alabama, với 340.136 từ, dài gấp ba lần hiến pháp Ấn Độ; và gấp 40 lần hiến pháp của nước Mỹ). Không ai dám nói Mỹ ít dân chủ hơn Ấn Độ cả. (Ở Việt Nam, sau mỗi lần thay đổi, hiến pháp lại dài ra: bản 1946 có 70 điều khoản; năm 1959: 112 điều khoản; năm 1980 và 1992: 147 điều khoản. Tôi không tính từ vì trên computer chỉ tính được từng tiếng rời – đúng hơn là âm tiết, syllable - thôi.)

Thứ ba, như Dawn Oliver và Carlo Fusaro ghi nhận trong cuốn How Constitutions Change: A Comparative Study (Hart Publishing, 2011, tr. 405-433), chuyện sửa đổi hiến pháp, với những mức độ và dưới những hình thức khác nhau, là điều bình thường: Mỗi hiến pháp đều vừa có tính vững chắc để phác họa những hướng phát triển chiến lược lâu dài lại vừa có tính uyển chuyển đủ để đáp ứng các thay đổi của từng thời đại, thậm chí, từng thời kỳ. Tuy nhiên, như Jose Luis Cordeiro ghi nhận trong bài “Constitutions around the world: a view from Latin America”, việc sửa đổi hiến pháp quá nhiều không phải là một dấu hiệu tốt. Trên thế giới, không có nơi nào người ta thay đổi hiến pháp nhiều bằng ở vùng châu Mỹ Latin. Theo thứ tự: Dominican Republic (32 lần), Venezuela (26 lần), Haiti (24 lần), Ecuador (20 lần), El Salvador, Honduras và Nicaragua (cả ba đều 14 lần). Tất cả các nước này đều liên tục bị bất ổn. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là sự cố định của một bản hiến pháp, tự nó, không phải là điều hay: ở hầu hết các quốc gia độc tài ở Trung Đông và châu Phi, người ta chẳng tha thiết gì đến việc sửa đổi hiến pháp cả.

Vấn đề, như Cordeiro nhấn mạnh, là ở chỗ: “Câu trả lời cho những khủng hoảng về kinh tế và chính trị không phải là có nhiều luật hơn, đặc biệt nếu chúng xấu hoặc không được ứng dụng hoặc không thể ứng dụng. Tốt hơn hết là có ít luật: Đó là những luật tốt và được tôn trọng. Luật lệ không được thiết chế hóa cũng như không được tôn trọng là những luật lệ vô ích.”

Ở Việt Nam hiện nay, cũng như ở nhiều quốc gia độc tài trên thế giới, hiến pháp chỉ là một trò chơi tu từ (rhetorical game).

Nó vô ích.

Dĩ nhiên, nếu khéo léo, những người đối lập hoặc độc lập vẫn có thể biến trò chơi tu từ vô ích ấy thành một thứ cơ hội tốt để đạt được hai mục tiêu chính: một, gây nên một phong trào tranh luận thực sự trong dân chúng về những vấn đề chính trị quan trọng trong nước để, qua đó, rèn luyện ý thức công dân và hướng đến việc hình thành một xã hội dân sự tại Việt Nam; và hai, qua hiến pháp, đặt vấn đề về bản chất của chế độ và nhu cầu dân chủ hoá chế độ.

Làm giỏi, người ta có thể đẩy chính quyền và đảng lãnh đạo – những kẻ gài bẫy – vào thế bị sập bẫy.
Các quốc gia trên thế giới có rất nhiều điểm khác nhau. Khác về địa lý. Về diện tích. Về dân số. Về kinh tế. Về văn hoá. Về chế độ chính trị. Về sức mạnh quân sự. Về chỉ số dân chủ, minh bạch cũng như hạnh phúc. Rất nhiều. Hầu như chỉ có một điểm chung dễ thấy nhất: Nước nào cũng có hiến pháp. Không có hiến pháp thành văn thì có hiến pháp bất thành văn (như trường hợp Anh, Israel và New Zealand). Không những phổ biến, hiến pháp còn là một điều khẩn cấp và thiết yếu: Trong thời hiện đại, bất cứ quốc gia mới nào được ra đời - từ nội chiến hoặc từ sự tan rã của chế độ thực dân hay, gần đây, chế độ Cộng sản - cũng đều xem việc viết hiến pháp là một trong những công việc được ưu tiên hàng đầu.

Tính chất phổ biến, khẩn cấp và có vẻ như thiết yếu ấy cho thấy hai mặt tích cực và tiêu cực của hiến pháp.

Tích cực: Hầu như ở đâu người ta cũng nhận ra tầm quan trọng đặc biệt của hiến pháp.

Tầm quan trọng ấy thể hiện ở mấy điểm chính:

Thứ nhất, hiến pháp là khung pháp lý căn bản nhất để xây dựng cấu trúc của các thiết chế chính quyền với những cơ quan và những chức danh lớn nhất - những nơi có nhiều quyền hành nhất trong một quốc gia.

Thứ hai, hiến pháp là cơ sở tạo nên tính chính đáng của nhà cầm quyền. Nó giống như lễ rửa tội cho một chế độ. Được hiến pháp công nhận, trên nguyên tắc, là được nhân dân trong nước và được quốc tế công nhận. Có thể nói, hiến pháp và việc thực thi theo hiến pháp, làm cho giới lãnh đạo vừa có thẩm quyền (authority) vừa có quyền lực (power).

Thứ ba, hiến pháp là nền tảng và là tiêu chí để dựa theo đó nhà cầm quyền soạn thảo các bộ luật khác nhằm điều hành đất nước cả trong quan hệ đối nội cũng như đối ngoại. Không có nền tảng và tiêu chí chung ấy, không thể có sự nhất quán trong các chính sách; không có sự nhất quán, chế độ không thể có một bản sắc riêng được.

Thứ tư, hiến pháp nêu lên một số lý tưởng và giá trị mà cả dân tộc đồng thuận và theo đuổi không những trong hiện tại mà còn cả trong tương lai. Những lý tưởng và giá trị ấy vừa có chức năng tạo nên bản sắc cho quốc gia vừa có chức năng nối kết các công dân lại với nhau thành một cộng đồng. Chính ý niệm về bản sắc và sự nối kết ấy là những thành tố quan trọng trong việc tạo nên sức mạnh của đất nước.
Thứ năm, hiến pháp là khế ước giữa những người cai trị và những người bị trị.

Trong khế ước ấy, những người cai trị biết được giới hạn quyền lực của mình và những người bị trị chấp nhận vị thế bị trị của mình: Một mặt, họ thừa nhận quyền lực của giới lãnh đạo; mặt khác, họ tự nguyện tuân thủ các quy định trong hiến pháp.

Một hiến pháp lý tưởng, trong một quốc gia dân chủ thực sự, thường bao gồm các yếu tố chính:

Một, nhắm đến mục tiêu chính là giới hạn quyền lực của giới lãnh đạo. Quyền lực bao giờ cũng có khuynh hướng trở thành độc tôn và sẵn sàng chà đạp lên người khác. Hiến pháp được đặt ra, trước hết, là để ngăn chận tình trạng lạm quyền và lộng quyền ấy. Nó ngăn chận bằng cách đặt ra những quy trình đi đến quyền lực, sự phân bố quyền lực, những giới hạn của quyền lực và những sự kiểm soát nghiêm nhặt mà những người có quyền lực phải chấp nhận.

Hai, nhắm đến mục tiêu bảo vệ những người bị trị. Xin lưu ý: Hiến pháp, tự bản chất, được viết là để nhằm bảo vệ những người bị trị chứ không phải bảo vệ những người cai trị. Giới cai trị không cần được bảo vệ: Họ đã có sẵn mọi quyền lực để tự bảo vệ họ. Chỉ có những người bị trị, những người dân thường, những người có quyền (right) và đã ủy thác thẩm quyền (authority) cho những kẻ có quyền lực (power), mới cần được bảo vệ, trước hết và quan trọng hơn hết, bảo vệ quyền sống như một con người, quyền tự do như một cá nhân và quyền ủy thác như một công dân (thể hiện qua việc bầu cử một cách tự do, minh bạch và bình đẳng).

Ba, những giá trị được đề ra trong hiến pháp phải có tính chất phổ quát, nghĩa là đặt trên nền tảng tôn trọng nhân quyền với ba nội dung chính là: tôn trọng sự bình đẳng của con người, tôn trọng quyền tự do của cá nhân và tôn trọng quyền tham gia của mọi công dân trong quá trình điều hành đất nước.

Bốn, nó là một sự chỉ dẫn và cũng là một sự bảo đảm cho một hệ thống pháp quyền (rule of law) thực sự. Quan hệ giữa hiến pháp và pháp quyền là một quan hệ hai chiều: Hiến pháp tăng cường sức mạnh cho pháp quyền và pháp quyền, ngược lại, làm cho hiến pháp có hiệu lực và giá trị. Không có hiến pháp (thành văn hoặc bất thành văn), pháp quyền sẽ không có nội dung cụ thể, từ đó, không có ý nghĩa. Không có pháp quyền, hiến pháp chỉ là những sự tuyên truyền suông.

Ở trên là những ý nghĩa tích cực của hiến pháp. Nhận ra ý nghĩa ấy, trong thời hiện đại, hầu như mọi chính trị gia, một cách thực lòng hay chỉ giả vờ, đều bày tỏ sự quan tâm đến hiến pháp. Đó là lý do chính giải thích tính chất phổ thông, khẩn cấp và có vẻ thiết yếu của hiến pháp ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, chính sự kiện nước nào cũng có hiến pháp, dân chủ có hiến pháp, đã đành; độc tài cũng có hiến pháp, và hiến pháp của họ có khi cũng rất hay, cho thấy là hiến pháp không nhất thiết gắn liền với dân chủ, tự do, nhân quyền và pháp quyền. Bản hiến pháp Mỹ năm 1789 đã trở thành nền tảng để xây dựng chế độ dân chủ ở Mỹ, và từ đó, ở hầu hết các quốc gia khác trên thế giới. Nhưng cũng với các bản hiến pháp dày cộm và đẹp đẽ trên tay, Stalin, Hitler và Mao Trạch Đông đã giết chết cả hàng chục triệu người, không thua kém bất cứ tên bạo chúa khát máu nào trong lịch sử nhân loại, kể cả ở các thời chưa từng có ý niệm hiến pháp. Trong ba người vừa kể, hầu hết các nạn nhân của Stalin và Mao Trạch Đông đều là chính dân chúng nước họ, những kẻ, trên nguyên tắc, được xem là đồng-tác giả của hiến pháp nước họ.

Điều đó cho thấy, một, tuy trên lý thuyết, hiến pháp ra đời cùng với ý niệm dân chủ, nhưng trên thực tế, tự bản thân nó, hiến pháp không là gì cả; và hai, hiến pháp có những mặt tiêu cực: được/bị sử dụng như một công cụ để trấn áp nhân dân.
Hiến pháp được/bị sử dụng cho những mục tiêu xấu như thế nào?

Thứ nhất, nó chỉ nhắm đến mục đích trao quyền nhưng lại làm ngơ trước vấn đề phân quyền và hạn chế quyền lực. Bằng cách ấy, nó chỉ có tác dụng củng cố chế độ độc tài và toàn trị.

Thứ hai, với dân chúng, nó chỉ đặt ra vấn đề bổn phận và trách nhiệm nhưng lại không nhấn mạnh vào các quyền chính trị, xã hội và pháp lý của họ. Bằng cách ấy, nó tước đoạt các quyền căn bản của người dân, biến dân chúng thành những tên nô lệ hiện đại nhằm phục vụ cho giới cầm quyền tham lam và tàn bạo.

Thứ ba, ngay cả khi được viết bằng một thứ ngôn ngữ rất tiến bộ, phù hợp với các yêu cầu chung trên thế giới, nhưng nếu không được thi hành, một bản hiến pháp cũng không có giá trị gì trừ việc trở thành cái cớ pháp lý để chính quyền đàn áp nhân dân.

Trong ba mục tiêu trên, hai mục tiêu đầu có thể được nhìn thấy ngay trên văn bản; mục tiêu thứ ba chỉ có thể được nhìn thấy bằng cách phân tích chu cảnh chính trị (political context) của quốc gia. Ở khía cạnh này, Việt Nam cũng giống hầu hết các quốc gia độc tài khác, thường sử dụng hiến pháp như một cách để biện chính cho quyền lực của mình và để tạo thế chính đáng cho chế độ của mình. Khi họ biết dân chúng đánh mất niềm tin ở họ, khi trong nước càng ngày càng có nhiều người phản đối họ, họ bèn bày vẽ ra chuyện viết lại hoặc sửa đổi hiến pháp, sau đó, thông qua hiến pháp để có thể lu loa với mọi người, trong cũng như ngoài nước, là họ đã được nhân dân ủy thác cả thẩm quyền và quyền lực. Tệ hơn nữa, sau đó, họ có thể sử dụng hiến pháp ấy như một công cụ để trấn áp dân chúng và duy trì sự độc tài của mình.

Nói hiến pháp là một con dao hai lưỡi là vì thế.

Bí ẩn về ướp xác lãnh tụ trên thế giới

Mặc dù, chính phủ Venezuela vừa quyết định bỏ ý đồ ướp và phơi bày vĩnh viễn xác của cố Tổng thống Hugo Chavez sau khi đoàn chuyên gia được mời từ Nga sang cho là công việc ướp xác, nếu có thể thực hiện được, cũng sẽ rất khó khăn, mất thời gian và tốn kém: Xác của ông phải để lại ở Nga ít nhất bảy tháng. Chính phủ Venezuela tuyên bố bỏ cuộc.Tuy nhiên trong thế kỷ 20 và hơn mười năm đầu của thế kỷ 21, trên thế giới có chín lãnh tụ được ướp xác dài hạn (hoặc với ý định dài hạn), bao gồm, theo thứ tự thời gian:

1.  Vladimir Lenin (Nga): Chết ngày 21/1/1924, xác được ướp và bày trong lăng Lenin tại Moscow. Các nhà khoa học cho cái xác hiện được bày trong tủ kính chỉ có khoảng 10% cơ thể của Lenin: ngoài các bộ phận bên trong bị cắt bỏ khi ướp, các bộ phận bên ngoài cũng dần dần bị phân hủy, do đó, người ta phải thay thế bằng đồ giả (ví dụ tai và mũi đều bằng sáp, tròng mắt là hai viên bi!).

2. Georgi Dimitrov (Bulgaria): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bulgaria, chết ngày 2/7/1949, xác được ướp và bày trong lăng tại Sofia. Tháng 8/1999, khi chế độ Cộng sản sụp đổ, xác bị đem hỏa táng, sau đó, chôn; và lăng cũng bị đập nát.

3. Joseph Stalin: Sau khi chết vào ngày 5/3/1953, xác được ướp vào bày bên cạnh Lenin, tuy nhiên, đến năm 1961, trong chiến dịch xét lại và chống nạn sùng bái cá nhân, Nikita Krushchev, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, đã quyết định mang xác Stalin đi chôn trong một nghĩa trang nhỏ ngay sau lăng.

4. Klement Gottwald (Tiệp Khắc): Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc, chết ngày 14/3/1953, xác được ướp và bày trong lăng tại Prague, nhưng đến năm 1962, một phần vì phong trào chống sùng bái cá nhân tại Liên Xô, môt phần vì xác bắt đầu bị hư thối trầm trọng, nên bị mang đem đốt.

5. Hồ Chí Minh: Chết ngày 2/9/1969, xác được ướp và cho đến nay, vẫn được bày trong lăng ở Hà Nội.

6. Mao Trạch Đông: Chết ngày 9/9/1976, xác được ướp và bày trong lăng ngay trong Quảng trường Thiên An Môn, Bắc Kinh.

7. Ferdinand Marcos: Chết ngày 28/9/1989 tại Hawaii, được vợ, bà Imelda, ướp xác; và bốn năm sau, mang về bày trong khuôn viên gia đình. Đến nay, người ta vẫn không biết cái xác được bày trong tủ kính ấy thật hay giả. Có nhiều tin đồn cho xác thật của Marcos đã được mang đi chôn, còn xác trong tủ kính chỉ được làm bằng sáp. (Trong một bài báo đăng trên The New York Times ngày 9/3/2011, phóng viên Seth Mydans tường thuật: lăng của Marcos rất quạnh quẽ, hầu như không có ai chăm sóc, kể cả việc quét dọn; có thời gian công ty điện lực dọa cắt điện vì không ai trả hóa đơn. Điều đó càng củng cố niềm tin cái xác trong tủ kính không phải là xác thật.)

8. Kim Il-Sung (Kim Nhật Thành): Chết ngày 8/7/1994, xác được ướp và bày trong Cung tưởng niệm Kumsusan tại Bắc Triều Tiên.

9. Kim Jong-il (Kim Chính Nhật): Chết ngày 17/12/2011, xác cũng được ướp và bày như bố.

Nhìn vào bản danh sách trên, chúng ta thấy một số điểm chung:

Thứ nhất, trừ Marcos của Philippines, tất cả những người còn lại đều là lãnh tụ Cộng sản.

Thứ hai, tất cả, kể cả Marcos, đều là những lãnh tụ độc tài và nổi tiếng là tàn bạo.

Dưới thời Lenin, có khoảng từ 6 đến 8 triệu người bị chết hoặc vì chiến tranh hoặc vì đói hoặc vì bị thanh trừng. Thời Stalin, các sử gia đưa ra nhiều con số nạn nhân khác nhau, nhưng trung bình là khoảng 51 triệu người, trong đó có khoảng 20 triệu bị giết chết trong thập niên 1930 (trước đệ nhị thế chiến). Thời Mao Trạch Đông, có khoảng từ 40 đến 72 triệu người bị chết (hoặc bị giết hoặc bị đói do chính sách “đại nhảy vọt” của đảng). http://necrometrics.com/20c5m.htm

Tại Bắc Hàn, dưới thời Kim Nhật Thành, theo ước tính của R.J. Rummel, có khoảng từ 710.000 đến 3.549.000 người bị giết chết.

Riêng Marcos, trong 20 năm làm tổng thống Philippines (1966-1986), đã tham nhũng và thâm lạm công quỹ đến khoảng 5 tỉ Mỹ kim, thậm chí, có chuyên gia còn cho là nhiều hơn nữa.

Hồ Chí Minh, chỉ riêng trong các cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào giữa thập niên 1950, đã giết chết cả hàng chục ngàn người. Gần đây, một số người cho ông làm vậy là do sức ép của Liên Xô và đặc biệt, của các cố vấn Trung Quốc. Tuy nhiên, có sức ép hay không, với tư cách là người lãnh đạo cao nhất của miền Bắc lúc ấy, ông cũng không thể tránh được trách nhiệm giết hại rất nhiều đồng bào vô tội của mình.

Thứ ba, trừ trường hợp cái xác của Marcos còn bị nghi ngờ, có ba xác đã bị đem đi hỏa táng và chôn, trên thế giới hiện nay, chỉ còn năm xác còn được bày, trong đó, Bắc Triều Tiên chiếm kỷ lục với hai xác: Đó cũng là một nước độc tài nhất, tàn bạo nhất và cũng nghèo đói nhất. Trong khi đó, chi phí ướp xác Kim Nhật Thành năm 1994 (do Nga thực hiện) mất khoảng một triệu Mỹ kim; chi phí bảo quản bằng khoảng 800.000 Mỹ kim.

Thứ tư, trong năm cái xác còn lại ấy, xác của Lenin, theo dự đoán của nhiều người, có lẽ sẽ được mang đem hỏa táng hoặc đem đi chôn sớm. Như vậy, sẽ chỉ còn lại bốn xác: Tất cả đều nằm ở châu Á và thuộc ba quốc gia theo chế độ Cộng sản trong mấy quốc gia Cộng sản cuối cùng trên thế giới.

Thứ năm, trừ trường hợp của Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật, chúng ta không thể biết rõ, tất cả những người còn lại đều bị ướp xác hầu như hoàn toàn ngoài ý muốn. Lenin muốn được chôn cạnh mộ của mẹ ông ở St. Petersburg. Trước khi chết, Hồ Chí Minh đã nói rõ ý định của mình: thiêu xác và chia tro ra làm ba phần cho ba miền Nam, Trung và Bắc. Mao Trạch Đông cũng muốn được hỏa táng.

Với cả ba người, quyết định ướp xác và bày trong tủ kính đều do những người thừa kế quyền hành. Với xác Lenin, đó là quyết định của Stalin; với hai người sau, là Bộ Chính trị.

Bộ Chính trị Việt Nam quyết định khá sớm, lúc Hồ Chí Minh đang hấp hối, do đó, Bác sĩ Sergi Debov, trưởng ban ướp xác của điện Kremlin được mời sang Việt Nam hai ngày trước khi ông tắt thở để chuẩn bị.

Ở Trung Quốc, thoạt đầu Bộ Chính trị chỉ ra chỉ thị ướp xác Mao Trạch Đông trong vòng 15 ngày để tổ chức lễ truy điệu, nhưng sau đó, đổi ý, họ muốn ướp xác vĩnh viễn. Vì quyết định muộn, lúc xác đã bắt đầu có dấu hiệu phân hủy, việc ướp xác trở thành cực kỳ khó khăn. Theo lời Zhisui Li, bác sĩ riêng của Mao Trạch Đông, có lúc mặt Mao Trạch Đông căng phồng lên, tròn như một quả bóng, còn cổ thì phình ra bằng cái đầu! Da trên má thì rách toạc từng chỗ. Trông rất dị dạng. Các bác sĩ phải tìm cách nắn bóp rồi vá víu lại để trông có vẻ bình thường. Lúc ấy, quan hệ giữa Trung Quốc và Liên Xô đã rất căng thẳng nên không thể xin Liên Xô giúp được. Trung Quốc cử một phái đoàn sang Việt Nam hỏi kinh nghiệm ướp xác Hồ Chí Minh (vốn được Nga giúp) nhưng Việt Nam từ chối. Cuối cùng họ cũng tự xoay xở được, dĩ nhiên, kẻ chịu đựng sự mày mò thử nghiệm của họ chính là cái xác chết của Mao Trạch Đông!

Vấn đề là: Tại sao những người kế quyền Cộng sản lại thích ướp và bày xác của các lãnh tụ quá cố của mình như vậy?

Câu trả lời thường nghe nhất là do tâm lý sùng bái cá nhân, xem cá nhân lãnh tụ như thần thánh, muốn họ trở thành bất tử ngay trước mắt mọi người.

Tuy nhiên, đó chỉ là lý do phụ. Lý do chính là người ta muốn lợi dụng tâm lý sùng bái để đầu tư quyền lực và quyền lợi của mình trên huyền thoại của những cái xác ấy. Ví dụ, ở Nga, theo Nina Tumarkin, trong cuốn Lenin Lives! The Lenin Cult in Russia, năm 1924, lúc Lenin mất, giới lãnh đạo Cộng sản sợ là cái chết của ông sẽ dẫn đến sự sụp đổ của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa vừa mới được xây dựng ở Nga. Họ đều biết phần lớn sức mạnh của chế độ đều nằm ở uy tín và huyền thoại bao quanh Lenin. Họ rất hoảng loạn. Khi thấy khoảng hơn 700.000 người bất chấp cả băng tuyết lạnh buốt ở Moscow để đến viếng thi hài Lenin, Stalin và Bộ Chính trị mới quyết định khai thác ngay cái xác ấy: Mang đi ướp và bày cho mọi người xem!

Đó cũng chính là lý do khiến Việt Nam, Trung Quốc và Bắc Hàn quyết định ướp xác lãnh tụ của họ. Họ biết họ yếu. Họ cần thần hộ mạng: Đó là những cái xác đã được khoét hết tất cả các cơ quan nội tạng, được ướp bằng vô số các hóa chất khác nhau để cho khỏi hư thối.

Chế độ họ còn tồn tại được, quyền lực và sự ưu đãi của họ còn kéo dài được một phần là nhờ những cái xác ấy. Bởi vậy, đừng hy vọng người ta sẽ mang những cái xác ấy đi chôn sớm. Không đâu. Giới lãnh đạo không dại dột đến như vậy: Những cái xác ấy còn nuôi được họ mà!

Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.


Nhiều vị lãnh tụ nổi tiếng trên thế giới được ướp xác vĩnh viễn để đời sau có cơ hội  thăm viếng và bày tỏ sự tôn kính.
 Thi thể của lãnh tụ Liên Xô vĩ đại Vladimir Lenin trong lăng tại Quảng trường Đỏ tại Moscow, Nga. Lenin qua đời năm 1924.
Thi thể của lãnh tụ Liên Xô vĩ đại Vladimir Lenin trong lăng tại Quảng trường Đỏ tại Moscow, Nga. Lenin qua đời năm 1924.
Thi hài của Joseph Stalin từng đượp đặt trong lăng cạnh Lenin từ năm 1953, nhưng bị đưa ra khỏi lăng và đem chôn vào năm 1956, sau khi Đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ 20 lên án tệ sùng bái cá nhân.
Thi hài của Joseph Stalin từng đượp đặt trong lăng cạnh Lenin từ năm 1953, nhưng bị đưa ra khỏi lăng và đem chôn vào năm 1956, sau khi Đại hội đảng CS Liên Xô lần thứ 20 lên án tệ sùng bái cá nhân.
Binh sĩ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bày tỏ lòng tôn kính trước thi thể của lãnh đạo Mao Trạch Đông. Chủ tịch Mao qua đời vào năm 1976.
Binh sĩ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bày tỏ lòng tôn kính trước thi thể của lãnh đạo Mao Trạch Đông. Chủ tịch Mao qua đời vào năm 1976.
 Thi hài của Chủ tịch Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) được quàn trong lăng  ở Bình Nhưỡng. Kim Nhật Thành qua đời ở tuổi 82 vào ngày 8/7/1994.
Thi hài của Chủ tịch Kim Nhật Thành (Kim Il Sung) được quàn trong lăng ở Bình Nhưỡng. Kim Nhật Thành qua đời ở tuổi 82 vào ngày 8/7/1994.
Thi thể của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Il tại Đài tưởng niệm Kumsusan Palace tại Bình Nhưỡng, tháng 12/2011. Kim Jong-il qua đời ngày 17/12/2011.
Thi thể của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Il tại Đài tưởng niệm Kumsusan Palace tại Bình Nhưỡng, tháng 12/2011. Kim Jong-il qua đời ngày 17/12/2011.
Cựu đệ nhất phu nhân Philippines Imelda Marcos đứng bên thi thể của chồng là cựu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos nằm trong quan tài kính tại lăng Marcos năm 1996. Ông Marcos qua đời khi sống lưu vong ở Hawaii (Mỹ) vào năm 1986. Bà Imelda Marcos đã ướp xác chồng và chuyển thi thể của ông về nước vào năm 1993.
Cựu đệ nhất phu nhân Philippines Imelda Marcos đứng bên thi thể của chồng là cựu Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos nằm trong quan tài kính tại lăng Marcos năm 1996. Ông Marcos qua đời khi sống lưu vong ở Hawaii (Mỹ) vào năm 1986. Bà Imelda Marcos đã ướp xác chồng và chuyển thi thể của ông về nước vào năm 1993.
Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela vừa qua đời hôm 5/3 sẽ được ướp xác vĩnh viễn và đặt trong quan tài kính để người dân có thể đến thăm viếng thường xuyên.
Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela vừa qua đời hôm 5/3 sẽ được ướp xác vĩnh viễn và đặt trong quan tài kính để người dân có thể đến thăm viếng thường xuyên.


Để ướp xác lãnh tụ Lênin và cố chủ tịch Kim Nhật Thành, các chuyên gia lấy hết nội tạng trong cơ thể, hủy tĩnh mạch và lấy hết máu ra khỏi các mô.

Lãnh tụ Xô viết Lênin

Vladimir Ilich Ulianov, nổi tiếng với bí danh Lênin, đã trút hơi thở cuối cùng, sau gần hai năm bị các cơn đau và đột qụy hành hạ vào lúc 6h50 chiều ngày 21/4/1924. Ngay lập tức, các cơ quan chính thức của nước Nga đã họp thảo luận vấn đề giải quyết thi hài của Lênin. Theo truyền thống, thi hài Lênin được ướp tạm thời để bảo quản cho tuần quốc tang trước khi an táng, nhưng Stalin đã quyết định ướp xác lâu dài. Những dấu hiệu của sự phân hủy đã xuất hiện trên cơ thể Lênin, nhưng phải sau gần 5 tuần, vào ngày 13/3/1924, Bộ Chính trị Nga mới đưa ra quyết định "bảo quản thi hài Lênin nhờ nhiệt độ thấp".
Thế nhưng cái lạnh chỉ khiến tình trạng của thi hài trở nên xấu hơn. Cách ướp xác thông thường, được giáo sư Abricosov sử dụng để bảo quản tạm thời thi hài (tiêm qua động mạch chủ 6 lít cồn, phoocmaldehit và glyxerin) không có tác dụng. Cuối cùng, Stalin cùng Dgierginxki nhất trí tiến hành ướp xác lâu dài theo phương pháp của Vorobiev. Theo đó, thi hài Lênin được mở ra, mọi cơ quan nội tạng được lấy ra hết. Sau đó, các giáo sư rửa sạch lồng ngực bằng nước cất. Mặt, hai bàn tay và toàn bộ bề mặt da được phủ bằng khăn ướt tẩm phoormaldehit. Quá trình này kéo dài 4 tháng.
Để hiệu quả hơn, các giáo sư đã được phép của đảng, khía lên bụng, vai, chân, lưng và lòng bàn tay của thi hài lãnh tụ cho dầu ướp xác thấm vào và ngấm khắp toàn bộ thi thể. Sau đó, họ mới thả Lênin vào bồn cao su ngập đầy thứ rượu thuốc bí mật.
Giáo sư Ilia Zbarxki, người gìn giữ thi hài Lênin, giải thích: "Trong thành phần của dung dịch có glyxerin, axetat kali và clo-quinin. Công thức này đã được nhà bác học Manicov Razvedencov đưa ra vào thế kỷ XIX. Mỗi tuần chúng tôi lại dùng khăn thấm chất lỏng lên mặt và hai bàn tay của xác ướp".
Hàng năm, Lăng Lênin đóng cửa một tháng rưỡi để ngâm thi hài trong dung dịch và thấm đẫm nó bằng các chế phẩm hoá học.

Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông

Ngày 9/9/1976, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa Mao Trạch Đông từ trần. Ngay tối hôm đó, Bộ Chính trị Trung Quốc họp khẩn cấp, xác định phải bảo quản thi thể ông để mọi người đến viếng. Họ ấn định thời gian là 15 ngày.
Sinh thời, Chủ tịch Mao Trạch Đông là người đề xướng chủ trương hỏa táng và là nhà lãnh đạo Trung Quốc đầu tiên ký vào văn bản đề nghị hỏa thiêu thi hài sau khi chết. Vì thế, thời gian bảo quản lúc đầu được ấn định là 15 ngày để tiến hành các hoạt động viếng và truy điệu. Thế nhưng, trong thời gian tiến hành hoạt động truy điệu, ngày 10/9, Trung ương đảng do Hoa Quốc Phong đứng đầu lại quyết định bảo quản lâu dài thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông, xây dựng lăng mộ để người đời sau được thấy di dung của ông.
Đây quả là một vấn đề lớn đối với các nhân viên y tế. Thông thường sau khi những lãnh tụ chết 2 giờ, thi thể họ phải được giải phẫu, lấy nội tạng ra, dùng hóa chất tẩy rửa mọi mạch máu trong cơ thể, sau đó đem ngâm vào phoóc-môn và một số hóa chất khác để ướp xác. Trong khi đó, thi hài Chủ tịch Mao Trạch Đông lúc đầu lại chỉ xử lý đơn giản, không được rửa mạch máu, nay làm theo quy trình bình thường thì không được nữa.
Cuối cùng, quyết định được đưa ra là lựa chọn phương pháp của các nhà khoa học Bắc Kinh: kết hợp giữa bảo quản ngâm dung dịch với bảo quản khí. Những phần da cần lộ ra bên ngoài như phần đầu và hai bàn tay thì bảo quản bằng khí, còn lại toàn thân không cần bộc lộ thì được ngâm trong chất lỏng. Ngoài ra, họ còn phải áp dụng tổng hợp các biện pháp bảo quản khác như vật lý, quang học. Tóm lại, đó là sự tổng hợp các biện pháp rất phức tạp.
Khi Nhà kỷ niệm mở cửa cho nhân dân vào thăm thì thi hài được đặt vào vị trí mà người ta có thể quan sát nhưng không đổ nước vào trong quan tài. Sau khi đóng cửa, thi hài lại được đưa xuống ngâm trong bồn kín dưới hầm ngầm. Ngoài ra, hàng năm cứ sau sinh nhật Chủ tịch Mao Trạch Đông, tức là 26/12, thì Nhà kỷ niệm đóng cửa để nhân viên kỹ thuật ngâm thi hài trong dung dịch một thời gian dài, bổ sung phần nước đã bị mất.

Chủ tịch Triều Tiên Kim Nhật Thành

Cố chủ tịch Kim Nhật Thành đã được các chuyên gia Nga ướp xác sau khi qua đời năm 1994. Hiện nay di thể của ông được đặt trong Cung tưởng niệm Kumsusan.
Trong một bài phỏng vấn trên tờ Moskovsky Komsomolets, ông Pavel Fomenko, người đã tới Triều Tiên hỗ trợ ướp xác chủ tịch Kim Nhật Thành, đã nói rõ hơn về quy trình ướp xác.
"Thông thường ba đến sáu chuyên gia tham gia những ca ướp xác. Những ca đặc biệt thì số lượng chuyên gia có thể lên tới bảy. Đầu tiên, tất cả nội tạng được lấy ra, tĩnh mạch bị hủy bỏ và máu được lấy ra khỏi các mô của cơ thể. Thi hài được đặt trong một bồn thủy tinh chứa đầy dung dịch để ướp, sau đó đóng lại và được phủ một tấm vải trắng. Các điều kiện chính xác về nhiệt độ và độ ẩm được duy trì trong phòng chứa thi hài", ông nói.
Dần dần, nước trong các tế bào của cơ thể sẽ được thay thế bởi dung dịch ướp. Quá trình này diễn ra trong khoảng 6 tháng. Fomenko cho biết, chính phủ Triều Tiên đã chi hàng triệu USD để ướp và duy trì thi hài của chủ tịch Kim Nhật Thành.

Cựu lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il

Thi hài ông Kim Jong-il tại Cung tưởng niệm Kumsusan ở Bình Nhưỡng trong những ngày quốc tang.
Thi hài ông Kim Jong-il tại Cung tưởng niệm Kumsusan
ở Bình Nhưỡng trong những ngày quốc tang. (Ảnh: AFP)
Ông Kim Jong-il qua đời ngày 17/12/2011 do một cơn đau tim khi đang đi tàu. Hàng trăm nghìn người dân Triều Tiên đã đổ ra đường phố Bình Nhưỡng, khóc thương thảm thiết trong tiết trời mưa tuyết, khi đoàn xe tang chở thi hài ông Kim Jong-il đi qua các con phố thủ đô.
Một năm sau ngày ông mất, Bình Nhưỡng mới hé lộ thi hài được bảo quản của cố lãnh đạo Kim Jong-il, vẫn trong trang phục khaki nổi tiếng. Ông Kim nằm dưới cha ông, Kim Nhật Thành, một vài tầng nhà trong Cung kỷ niệm Kumsusan. Nơi đó từng là văn phòng của chủ tịch Kim Nhật Thành. Thi hài ông Kim Jong-il được phủ một tấm chăn màu đỏ, với ánh đèn chiếu rọi vào gương mặt, trong căn phòng ngập tràn sắc đỏ.

 Mặc dù công nghệ ướp xác đã có những bước tiến lớn trong những năm gần đây, các chuyên gia được báo chí dẫn lời cho rằng chưa có công nghệ bảo quản xác mãi mãi ở thể trạng ban đầu.

Hãng tin AP của Hoa Kỳ có bài viết với câu mở đầu: "Không ai sống mãi - mà cũng không ai tồn tại mãi. Ít nhất là nếu không được tu chỉnh thường xuyên."
AP cũng dẫn lời chuyên gia ướp xác Vernie Fountain nói: "Điều đầu tiên phải nhớ về chuyện ướp xác như chúng tôi đang làm ở Hoa Kỳ là nó nhằm mục đích trì hoãn quá trình thoái hóa tự nhiên của cơ thể; nó không phải là để giữ xác vĩnh viễn."
Ông Fountain, người cũng là sáng lập viên Viện Hàn lâm Quốc gia Fountain về Kỹ thuật Ướp xác, giải thích thêm rằng các chuyên gia ướp xác thường dùng máy để bơm chất hóa học, chủ yếu là formaldehyde, vào động mạch trong cơ thể và hút hầu hết máu ra thông qua ven.
Chuyên gia này nói một chất hóa học khác, humectant, được dùng để "làm cho cơ thể phồng lên, lấp vào những chỗ trống và tăng độ ẩm."
Ngoài ra người ta sẽ dùng tới kỹ thuật trang điểm, thậm chí cả phẫu thuật thẩm mỹ, để xác ướp trông tươi tắn hơn.
Các chuyên gia Hoa Kỳ dường như chủ yếu coi ướp xác chỉ là để bảo quản thi thể trong một thời gian ngắn trước khi tiến hành hỏa táng hay chôn cất.
Tổng thống Abraham Lincoln cũng được ướp xác sau khi bị ám sát hồi năm 1865 để thi thể của ông không bị hủy hoại trong chặng đường ba tuần bằng tàu về Springfield ở bang Illinois.

Công nghệ Nga

Trong khi người Mỹ xem việc ướp xác chỉ là tạm thời, công nghệ ướp xác lãnh tụ lâu dài của Nga được xem là công nghệ hàng đầu.
Cả Việt Nam và Bắc Triều Tiên đều nhờ tới các chuyên gia Nga khi ướp xác các cố lãnh tụ Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành và Kim Chính Nhật.
"Mỗi tuần hai lần, chúng tôi tẩm ướt toàn bộ mặt và hai tay với dung dịch đặc biệt."
Ilya Zbarsky, thành viên của nhóm chuyên bảo quản thi thể Lenin
Xác ướp của lãnh tụ Vladimir Lenin hiện vẫn ở trong lăng tại Quảng trường Đỏ, gần 90 năm sau khi ông qua đời.
Hãng tin CNN dẫn lời bà Nina Tumarkin, tác giả cuốn 'Lenin Sống mãi! Sùng bái Lenin ở nước Nga Soviet', nói quyết định ướp xác Lenin phản ánh một giai đoạn lịch sử sóng gió tại Liên Xô còn non trẻ.
Bà nói: "Nhiều người sợ rằng chế độ sẽ không sống sót được khi ông qua đời."
Theo bà, nhiều nhà lãnh đạo lúc đó còn lưỡng lự về chuyện có nên tổ chức lễ viếng quốc gia cho ông không vì sợ sẽ không có nhiều người tới.
Tuy nhiên có đến 750.000 người không quản thời tiết băng giá trong tháng Một để tới đứng nhiều giờ chờ vào viếng Lenin.
Đây là lý do họ quyết định bảo quản xác vị cố lãnh tụ và cũng là để chứng minh cho khả năng của nền khoa học Nga.
Bà Tumarkin nói Lenin ngày nay trông không còn được như xưa bất chấp chuyện mặt ông đã luôn được chỉnh sửa bằng cách thay mới các dung dịch ướp.
Tác giả cũng nhận xét thêm rằng những hàng dài chờ viếng Lenin đã không còn mà thay vào đó là những người tản bộ trong lăng như đi vào bảo tàng sáp.
Lenin trong lăng
Công nghệ ướp xác của Nga được xem là tiên tiến
Mặc dù có các chuyên gia hàng đầu, Nga không liên quan tới việc giữ gìn thi thể nhà lãnh đạo Mao Trạch Đông của Trung Quốc do căng thẳng quan hệ giữa hai nước vào thời điểm đó (1976).
Hãng thông tấn Bấm AP dẫn lời bác sỹ của Mao nói Việt Nam, khi đó có quan hệ với Nga tốt hơn với Trung Quốc, cũng không giúp Bắc Kinh.
Trong khi đó Bấm Washington Post lại nói Việt Nam không thể giải thích được cho phía Trung Quốc về cách chế ra quan tài không có không khí bên trong khi được tham vấn.
Trả lời phỏng vấn Bấm BBC hồi năm 1999, Ilya Zbarsky, một thành viên của nhóm chuyên bảo quản thi thể Lenin thuộc Viện Nghiên cứu Cấu trúc Sinh học ở Moscow nói về công nghệ bảo quản của Nga:
"Mỗi tuần hai lần, chúng tôi tẩm ướt toàn bộ mặt và hai tay với dung dịch đặc biệt.
"Chúng tôi cũng có thể cải thiện một số biến chất nhỏ.
"Mỗi năm một lần lăng đóng cửa và toàn bộ cơ thể được tắm bằng dung dịch này."
Bài viết của BBC hồi năm 2011 cũng nói hàng năm xác của cố lãnh tụ Hồ Chí Minh của Việt Nam đều được đưa sang Nga để tân trang.

Ướp xác bất thành

Nhân sự kiện ông Hugo Chavez sẽ được ướp xác, các báo cũng nhắc lại những vụ ướp xác dở chừng hay bất thành.
Washington Post dẫn nguồn tạp chí Time nói nhà lãnh đạo Joseph Stalin của Nga nằm cạnh Lenin trong lăng ở Quảng trường Đỏ gần 10 năm nhưng sau đã bị đem chôn vì các tân lãnh đạo muốn xóa bỏ chủ nghĩa sùng bái ông.
"Mặt Mao tròn như quả bóng, và cổ to bằng đầu."
Bác sỹ của Mao, Lý Chí Thỏa, nói về sự cố khi ướp xác Mao
The Huffington Post nói Chủ tịch Czech và Slovakia, ông Klement Gottwald, được ướp cùng năm với Stalin nhưng rồi cũng bị đem hỏa táng vào cùng khoảng thời gian Stalin bị đưa ra khỏi lăng.
Nhưng lý do ông Gottwald bị đem hỏa táng là vì phần bụng, hông và tay đã bị thoái hóa tới mức không thể phục hồi được.
Washington Post nói thi thể được gìn giữ của bà Eva Peron, vợ cố Tổng thống Argentina Juan Peron, đã bị mất một ngón tay do quân nổi dậy đã chiếm nhà của vị Tổng thống khi lật đổ ông và cắt một ngón tay của bà để xem xác đó là giả hay thật.
Trong khi đó hãng tin AP dẫn lời Lý Chí Thỏa, bác sỹ riêng của Mao Trạch Đông, viết trong cuốn 'Đời tư của Mao Chủ tịch' rẳng Trung Quốc đã dùng công thức có được từ một tạp chí phương Tây tại thư viện y khoa ở Bắc Kinh để ướp xác Mao, nhưng lại tăng số lượng hóa chất với hy vọng sẽ bảo quản được xác tốt hơn.
Ông Lý viết: "Kết quả thật kinh khủng.
"Mặt Mao tròn như quả bóng, và cổ to bằng đầu."
Ông Lý nói nhóm ướp xác đã phải bỏ ra nhiều giờ để mát-xa và trang điểm để Mao trông bình thường hơn nhưng cũng chuẩn bị sẵn một thi thể bằng sáp để phòng trường hợp bất trắc.

Nếu bạn là Lãnh tụ, bạn có muốn ướp xác không?

Nhân chuyện chính phủ Venezuela quyết định ướp xác ông Chavez để dân chúng được chiêm ngưỡng lâu dài, xem lại chùm ảnh từng công đoạn bảo quản thi hài Lenin: (người yếu tim không nên xem tiếp)  










Phim Russian TV Channel
Theo báo chí: Năm 2006 đúng vào dịp kỷ niệm 135 năm ngày sinh Vladimia Ilich Lênin (22/4/1871-22/4/2006), nước Nga đã công bố nhiều tài liệu xưa nay vẫn được coi là tuyệt mật về Lênin, trong đó có các tài liệu về việc bảo vệ thi hài và Lăng Lênin trong suốt gần thế kỷ qua.
Để ướp xác lãnh tụ Lênin, các chuyên gia lấy hết nội tạng trong cơ thể, hủy tĩnh mạch và lấy hết máu ra khỏi các mô.
Vladimir Ilich Ulianov, nổi tiếng với bí danh Lênin, đã trút hơi thở cuối cùng, sau gần hai năm bị các cơn đau và đột qụy hành hạ vào lúc 6h50 chiều ngày 21/4/1924. Ngay lập tức, các cơ quan chính thức của nước Nga đã họp thảo luận vấn đề giải quyết thi hài của Lênin. Theo truyền thống, thi hài Lênin được ướp tạm thời để bảo quản cho tuần quốc tang trước khi an táng, nhưng Stalin đã quyết định ướp xác lâu dài.
Những dấu hiệu của sự phân hủy đã xuất hiện trên cơ thể Lênin, nhưng phải sau gần 5 tuần, vào ngày 13/3/1924, Bộ Chính trị Nga mới đưa ra quyết định "bảo quản thi hài Lênin nhờ nhiệt độ thấp".
Chuyện shock nhung-bi-mat-de-bao-quan-thi-hai-cac-lanh-tu-quoc-gia-news
Thi hài lãnh tụ Xô viết Lê Nin
Thế nhưng cái lạnh chỉ khiến tình trạng của thi hài trở nên xấu hơn. Cách ướp xác thông thường, được giáo sư Abricosov sử dụng để bảo quản tạm thời thi hài (tiêm qua động mạch chủ 6 lít cồn, phoocmaldehit và glyxerin) không có tác dụng. Cuối cùng, Stalin cùng Dgierginxki nhất trí tiến hành ướp xác lâu dài theo phương pháp của Vorobiev.
Theo đó, thi hài Lênin được mở ra, mọi cơ quan nội tạng được lấy ra hết. Sau đó, các giáo sư rửa sạch lồng ngực bằng nước cất. Mặt, hai bàn tay và toàn bộ bề mặt da được phủ bằng khăn ướt tẩm phoormaldehit. Quá trình này kéo dài 4 tháng.
Để hiệu quả hơn, các giáo sư đã được phép của đảng, khía lên bụng, vai, chân, lưng và lòng bàn tay của thi hài lãnh tụ cho dầu ướp xác thấm vào và ngấm khắp toàn bộ thi thể. Sau đó, họ mới thả Lênin vào bồn cao su ngập đầy thứ rượu thuốc bí mật.
Giáo sư Ilia Zbarxki, người gìn giữ thi hài Lênin, giải thích: "Trong thành phần của dung dịch có glyxerin, axetat kali và clo-quinin. Công thức này đã được nhà bác học Manicov Razvedencov đưa ra vào thế kỷ XIX. Mỗi tuần chúng tôi lại dùng khăn thấm chất lỏng lên mặt và hai bàn tay của xác ướp".
Hàng năm, Lăng Lênin đóng cửa một tháng rưỡi để ngâm thi hài trong dung dịch và thấm đẫm nó bằng các chế phẩm hoá học.
 

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Tiến trình cồn phá hủy cơ thể người nghiện rượu

Trong vòng một giờ uống vào cơ thể, rượu được hấp thu toàn bộ với 80% tại ruột non và số còn lại ở dạ dày. Cồn bắt đầu tấn công cơ thể, trong đó gan và hệ thần kinh trung ương phải chịu đựng nhiều nhất. 
nhau2-1351657982-500x0-jpg-1363462467_50
Chỉ uống vài cốc bia cho "mát ruột" khi tan sở nhưng thật ra là tự đầu độc mình dần dần. Ảnh: P.D.
Khi uống rượu, ta đã đưa vào cơ thể một lượng cồn nằm trong số rượu này. Chẳng hạn 250ml bia, 100ml rượu nho trắng, 75ml rượu nhỏ đỏ, 25ml rượu trắng chứa cùng một lượng cồn nguyên chất là 10ml. Khi tiêu thụ các loại thức uống chứa cồn, dù không say ra mặt nhưng ta không biết là cơ thể mình đang bị đầu độc và đang trở thành một bệnh nhân nặng, một người nghiện rượu mãn tính. 
Dạng nghiện rượu cấp tính có thể xuất hiện khi một người khỏe mạnh và không nghiện bỗng dưng tiêu thụ cùng lúc một lượng rượu lớn. Số lượng thay đổi tùy theo cách thức phản ứng đối với lượng cồn của mỗi người. Một số say sau 2 đến 3 cốc, một số khác kháng cự được những liều lượng lớn hơn. Say là một tình trạng không bình thường và có tính chất tạm thời. Nếu không uống nữa, tình trạng này sẽ qua đi nhanh chóng, cơ thể phục hồi nhanh và rượu thường không để lại dấu vết gì. 
Do tác dụng kích thích và gây hưng phấn, cồn có lúc được gọi là “aqua vitae”, tức là “nước uống”. Nhưng sau khi biết rõ tác hại, người ta đã cho nó cái tên phù hợp hơn: “nước bệnh” và “nước chết”. Cồn được dùng để đem lại niềm vui, nhưng trên thực tế nó mang lại nhiều đau đớn và bất hạnh. 
Rượu cồn không phải là một người bạn mà là một kẻ thù nham hiểm, hung ác. Nó phá hủy cơ thể một cách ngấm ngầm và đến một lúc nào đó, người nghiện rượu gục xuống sau một cơn bệnh nặng nề thường rất khó chữa. 
Không có một cơ quan hay một tế bào nào trong cơ thể mà không chịu tác động của cồn. Khi rượu vào cơ thể, nó được hấp thu nhanh với 20% hấp thu tại dạ dày và 80% tại ruột non, sau 30-60 phút toàn bộ rượu được hấp thu hết. Sau đó, rượu được chuyển hóa chủ yếu tại gan (90%). Một lượng nhỏ rượu còn nguyên dạng (khoảng 5-10%) thải ra ngoài qua mồ hôi, hơi thở và nước tiểu. Những nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng một phần trong số cồn bị đốt cháy; phần còn lại đọng trong cơ thể rất nhiều ngày.
Khi vào đến các mô, cồn tấn công tất cả các tế bào của cơ thể; cơ quan phải chịu đựng nhiều nhất là hệ thần kinh trung ương. Phần lớn (75%) số cồn ở trong máu đến não. Với các tế bào thần kinh rất nhạy cảm trước bất cứ chất độc nào, cồn gây ra những rối loạn trầm trọng trong sự hoạt động của vỏ não và làm cho vỏ não không còn kiểm soát, điều chỉnh được hoạt động của các trung tâm dưới vỏ. Năng lực tự kiểm tra và bản lĩnh tự phê trong đối xử của người nghiện mất đi rất nhanh. 
Các trung tâm dưới vỏ thoát khỏi sự kiểm soát của vỏ não, bước vào tình trạng bị kích thích, và tất cả hoạt động của chúng trở nên hỗn loạn, vô tổ chức. Người say lúc thì xuất hiện tình trạng cao hứng gấp bội, cười nói hả hê, lúc thì giận dữ, đập phá. Sau giai đoạn kích thích này, nếu người ấy đã uống nhiều sẽ thiếp đi trong một giấc ngủ sâu. Anh ta như người mất trí, không thể đánh thức dậy được và không hề có phản ứng gì trước môi trường xung quanh. Mạch trở nên chậm, nhiệt độ cơ thể hạ xuống. 
Với người nghiện rượu mạn tính, những sự rối loạn không được rõ rệt như thế mà xuất hiện những hiện tượng khác: Mất hứng thú trong lao động, trở nên cẩu thả, năng suất lao động và chất lượng công việc hạ xuống. Với thời gian, trí nhớ và sự chú ý yếu đi, con người trở nên hay cáu kỉnh, bực bội hay cãi vã. Sau đó còn xuất hiện những rối loạn tâm thần trầm trọng. 
Dưới ảnh hưởng của cồn, co tim bị thoái hóa và một phần trong mô cơ tim được thay thế bằng mỡ. Trái tim của những người nghiện rượu to gấp đôi người bình thường. Trong y học thường được gọi là “tim bò” hoặc “tim bia”. Bộ máy tim mạch bị tổn thương: Đau đầu xuất hiện, khó thở,  mắt cá sưng to. 
Những rối loạn sâu sắc xảy ra ở cả gan. Một trong những nhiệm vụ chính của gan là ngăn các chất độc khác nhau do máu mang từ ruột hoặc ở ngoài đến. Cồn phá hủy chức năng này của gan. Đồng thời gan bị thoái hóa và một phần tế bào gan bị thay thế bởi các tế bào mô liên kế và mỡ. Một bệnh nặng xuất hiện là bệnh xơ gan mà thường kết thúc bằng sự chết non. 
Trên thế giới, trong bảng về tỷ lệ tử vong, sau bệnh tim và ung thư, vị trí thứ ba là tai nạn lao động và nhất là các tai nạn giao thông. Ở những người nghiện rượu, tai nạn nhiều gấp 3 lần so với những người không nghiện rượu. Các tài liệu thống kê gần đây của Tổ chức Y tế thế giới chỉ ra rằng một phần ba tổng số các tai nạn chết người xảy ra trong lúc say rượu. 
Tục ngữ có câu “rượu đến là tội đến”, điều này đúng ở bất cứ nơi nào trên trái đất nếu ở đó con người kết bạn với rượu. Một tạp chí y học ở Pháp cho rằng rượu là nguyên nhân của vô số những tội ác và phạm pháp, 90% trong số những hỏa hoạn cố ý, 35% tội phạm, 95% phạm pháp, 85% trường hợp bị thương và đánh nhau, 53% vụ vi phạm đạo đức xã hội… đều là do nghiện rượu. Trong các bệnh viện, 30% trong số các bệnh nhân nhập viện vì rối loạn tâm thần là nạn nhân của nghiện rượu mạn tính. 
Những người nghiện rượu tỏ ra kém sức đề kháng đối với bệnh và chết sớm hơn. Tử vong ở những người nghiện rượu cao hơn những người không nghiện 3 lần. Người ta đã nghiên cứu nguyên nhân tử vong ở số người nghiện rượu mạn tính và đi đến kết luận là: 26% chết vì ngộ độc cấp tính bằng rượu, 14% bởi tai nạn, 29% do viêm phổi, 13% lao phổi, 18% từ các bệnh tim, 8% do các bệnh khác. 

 Đồng bằng Sông Cửu Long là một trong những vùng có nghề sản xuất rượu lâu đời và gắn liền với từng địa danh là những thương hiệu nức tiếng từ xưa như rượu Phú Lễ (Bến Tre), rượu đế Gò Đen (Long An), Nhị Quý (Tiền Giang). Nguyên liệu để nấu rượu thường là gạo, nếp, sắn (khoai mì). Mỗi loại nguyên liệu tạo thành một hương vị đặt trưng của rượu. Rượu gạo là loại rượu phổ biến nhất ở Việt Nam.

  Quy trình sản xuất



. Giải thích qui trình

Nấu chín: gạo nguyên liệu được ngâm nhằm rửa sạch chất bẩn bám bên ngoài hạt, đồng thời làm cho hạt gạo mềm, trương nở giúp dễ dàng cho quá trình nấu. Sau khi để ráo, gạo được cho vào nồi, thêm nước và nấu chín. Lượng nước cho vào được tính toán sao cho cơm sau khi nấu không quá nhão cũng không bị sống. Tỉ lệ gạo nước khoảng 1:1 theo thể tích.
Mục đích của việc làm chín hạt gạo nhằm hồ hóa tinh bột gạo giúp cho vi sinh vật dễ sử dụng tinh bột này để lên men rượu.



Làm nguội: Cơm sau khi nấu chín được trãi đều trên một bề mặt phẳng để làm nguội xuống nhiệt độ thích hợp cho việc trộn bánh men rượu. Nhiệt độ cơm cao sẽ làm bánh men rất khó hoạt động. Bánh men rượu được trộn vào bằng cách bóp nhỏ, rắc đều lên bề mặt lớp cơm với tỷ lệ thích hợp tùy theo hướng dẫn trên từng loại men. Sau đó cho tất cả vào khạp lớn, đậy nắp để bắt đầu quá trình lên men rượu.



Lên men: Lên men rượu là một quá trình lên men yếm khí (không có mặt của ô xy) diễn ra rất phức tạp, bao gồm các quá trình sinh hóa học và các quá trình vi sinh vật. Quá trình lên men diễn ra ở nhiệt độ thường, trong thời gian này có 3 quá trình diễn ra song song với những mức độ khác nhau. Trước tiên là quá trình tăng sinh khối nấm men. Quá trình đường hóa có sự phân cắt tinh bột thành đường nhờ men amylase và glucoamylase trong nấm mốc. Đường vừa tạo ra trở thành thức ăn để nấm men thực hiện quá trình lên men rượu.
Quá trình lên men rượu diễn ra do nấm men sử dụng đường để tạo thành rượu etylic và CO2. CO2 sinh ra trong quá trình lên men sẽ tạo thành bọt khí bám vào bề mặt nấm men và làm các tế bào nấm men nổi lên trên, khi lên đến bề mặt, bọt khí vỡ ra và tế bào nấm men lại chìm xuống tạo ra sự đảo trộn giúp quá trình lên men được tốt hơn.



Sau 2 ngày đầu lên men, có thể bổ sung nước vào khối lên men với tỷ lệ nước:cơm khoảng 3:1, sau đó đậy nắp và tiếp tục lên men thêm khoảng 3 ngày nữa.

Chưng cất: Khi quá trình lên men kết thúc, ta tiến hành chưng cất để thu được rượu thành phẩm.



Quá trình chưng cất rượu nhằm tách hỗn hợp rượu và nước có nhiệt độ sôi khác nhau. Ở áp suất thường, rượu sôi và bốc hơi ở 78oC, còn nước là 100oC. Khi chưng cất rượu được tách ra khỏi nước nhờ bay hơi dễ hơn nước. Quá trình chưng cất được tiến hành bằng cách đun sôi hỗn hợp lên men, hơi bay lên được dẫn qua ống dẫn và được làm lạnh bằng cách cho qua bồn nước để ngưng tụ rượu. Dung dịch rượu thu được trong suốt có mùi thơm đặc trưng và nồng độ rượu sẽ giảm dần theo thời gian chưng cất. Tùy theo yêu cầu của khách hàng mà ta có thể tiến hành pha trộn các loại rượu thu được ở các khoảng thời gian chưng cất khác nhau để tạo ra rượu có nồng độ cao thấp khác nhau.
Sau 2 ngày đầu lên men, có thể bổ sung nước vào khối lên men với tỷ lệ nước:cơm khoảng 3:1, sau đó đậy nắp và tiếp tục lên men thêm khoảng 3 ngày nữa.

Và Cách làm rượu nếp:

Nguyên liệu:

- 1kg gạo nếp xay lật hay còn gọi là gạo nếp lứt
- 3 quả men rượu
- Nồi gốm, túi khóa zip cỡ to.

Bước 1:

Gạo nếp vo sạch, để ráo.

Cho gạo vào nồi cơm điện, nấu như nấu cơm tuy nhiên bạn cho lượng nước ít hơn so với nấu cơm bình thường nhé. Nếu cẩn thận hơn bạn có thể đồ như đồ xôi. 

Cơm nếp chín đổ ra mâm rộng, tãi mỏng cơm cho nhanh nguội.

Bước 2:

Men rượu gạt bỏ lớp vỏ trấu bằng cách xát 2 quả men vào nhau.

Giã mịn men.

Bước 3:

Cơm sau khi đã nguội hoàn toàn bạn rây men vào.

Trộn đều cơm và men.

Tiếp tục rắc nốt phần men còn lại, trộn đều.

Bước 4:

Ủ rượu nếp cái ngon nhất là dùng lá chuối khô, tuy nhiên ở thành phố hiện nay để tìm được lá chuối khô là điều không dễ dàng. Mình đã thử tận dụng ngay những vật dụng thường có trong bếp để ủ rượu thì thấy kết quả vẫn ngon. Vật dụng thay cho rổ tre và lá chuối khô mình dùng là nồi gốm và túi khóa zip. Dùng kéo cắt tạo lỗ ở phần đáy túi khóa zip.

Cho cơm đã trộn men vào túi.

Trong nồi gốm đặt 1 bát hoặc đĩa nhỏ sau đó đặt tấm phên tre lên. Để như vậy để khi ủ rượu nước rượu sẽ chảy xuống chứ không bị đọng làm rượu dễ lên men cay.

Đặt túi khóa zip chứa cơm đã trộn men vào nồi. 

Kéo miệng túi kín lại rồi đậy vung nồi để chỗ thoáng mát.

Với thời tiết nắng nóng như hiện này bạn chỉ cần ủ khoảng 34 tiếng là rượu đã ngấu. Với thời tiết mát mẻ hơn bạn có thể tăng thời gian ủ. Cách kiểm tra cơm rượu đến độ là khi hạt cơm ngấu, căng mọng, rượu có vị ngọt, thơm, không bị chua hoặc cay.

Sau thời gian ủ, nước rượu chảy xuống dưới khá nhiều, bạn dùng chính nước này để tưới lên cơm rượu nhé. 

Bạn nhớ để ý dỡ rượu khi đến độ, tránh ủ lâu sẽ làm rượu lên men cay và hạt cơm rượu bị xác.

Rượu nếp cái ủ đến độ là khi hạt cơm ngấu, căng mọng. Rượu nếp có hương thơm và vị ngọt tự nhiên mà bạn không cần phải dùng đến đường.
Ngoài rượu nếp bạn có thể chuẩn bị các loại trái cây của mùa này như mận, xoài, lê, đào... để có một cái tết Đoan Ngọ thật xôm và đúng điệu nhé!

Có 2 món cơ bản quyết định chất lượng cơm rượu, đó là nếp và men. Nếp phải là nếp rặt (không lẫn gạo hay tạp chất khác), thường là nếp mù u hạt nhỏ, đều rất ngon; còn men là loại men ngọt (men viên nhỏ, chỉ dùng cho cơm rượu) và nên tìm những nơi bán men quen từ trước để khi làm cơm rượu không bị hư (dân gian gọi là bị ngâu vọc, viên cơm rượu có màu đỏ, vị chua!)

Bạn cần chuẩn bị sẵn các thứ như: men cà nhuyễn để ra chén (nhiều ít tùy số lượng nếp và người bán cũng cho biết 1 viên men làm được bao nhiêu lít nếp), lá chuối xé thành từng miếng nhỏ (kích cỡ chiều cao bằng viên cơm rượu định làm), nước muối hòa thật mặn (độ mặn khi bỏ hạt cơm nguội phải nổi lên), vôi cục (cỡ ngón tay cái) nướng chín bỏ vào nước muối chờ hòa tan và gạn lấy nước trong.

Trước tiên, cho nếp, khoảng 1 lít (khoảng 800 gram - cách tính của người miền Nam) vào thau ngâm với hỗn hợp nước muối vôi khoảng 6 tiếng (theo tỉ lệ 1 lít nếp trộn 2/3 chén nước muối, vôi). Kế đến, vớt nếp ra để ráo, và đổ nếp vào nồi xôi (2 lần).

Lần thứ 1, nếp vừa chín tới đem ra xả nước lạnh, rồi mới nấu tiếp lần thứ 2 cho chín hẳn.
Tiếp theo, đổ nếp ra mâm san phẳng (hay vào khuôn cũng được!). Chờ nếp hơi nguội, rắc đều men lên bề mặt nếp, cho tay thấm vào nước muối vò viên (hay cắt thành từng cục lớn, nhỏ tùy ý). Lấy lá chuối ủ kín lại, chừa lỗ cho nước cơm rượu ra.
Dùng nắp đậy lại, bỏ vào thùng giấy các-tông ủ kín 2 đêm. 

Tuy nhiên thật khủng hoảng thay: 
"công thức làm rượu tại chợ lớn: 1 lít metanol công nghiệp giá 16 ngàn pha với 5 lít nước lã, mua 1 chai hương mùi giá 18 ngàn vậy là có 6 lít rượu muốn mùi nào hương nào cũng có, thử hỏi uống vào có cháy bộ đồ lòng hay ko?"
Chi tiết như sau:

“Công nghệ chế tác” rượu quê

Rượu quê vốn được các “đệ tử Lưu Linh” ưa chuộng từ bao lâu nay bởi uống “phê”, êm. Nhưng những "bợm nhậu" sẽ phải giật mình khi “công nghệ chế tác” rượu quê được hé mở.
Rượu giả “vả” rượu thật
Thật không khó để tìm ra loại rượu “siêu rẻ” này, bởi nó được bán công khai ở hầu khắp các quán nhậu bình dân ở Hà Nội, đặc biệt là các huyện ngoại thành. Sở dĩ gọi rượu siêu rẻ vì được sản xuất theo “công nghệ” đặc biệt chứ không còn thủ công như ngày xưa. Tóm lại, nếu tính toán chi ly, giá của loại rượu này còn thấp hơn giá thành của rượu được nấu từ sắn, phẩm cấp thấp nhất của rượu quê.
Ở làng Vân, xã Vân Hà (Việt Yên – Bắc Giang) có hơn 600 hộ nấu rượu. Hàng ngày, làng này cung cấp ra thị trường hàng chục nghìn lít rượu. Tuy vậy, trong số đó có không ít cái gọi là rượu được “chế tác” từ men tươi. Theo chân ông Quyết, một người “nấu rượu thật thà” trong làng, PV không khó để tận mắt chứng kiến “công nghệ chế tác rượu quê”. Cầm trên tay gói men được mệnh danh là “men rượu số 1 tại Việt Nam – Hơn cả sự mong đợi”, ông Quyết bảo, mỗi gói men thế này mua với giá tiền trên dưới 40 nghìn đồng, sử dụng được cho 1 tạ gạo, sắn. “Đây là thứ thần dược giúp rượu ra nhiều hơn khi nấu. Theo đúng cách nấu truyền thống, thì nhà nào nấu giỏi nhất của làng Vân cũng chỉ đạt được 7 đến 7 thành rưỡi (10kg gạo nấu được 7-7,5 lít rượu - PV). Tuy nhiên, sử dụng men này theo đúng “công thức”, thì 10kg gạo có thể nấu được 13-15 lít rượu, gấp đôi so với nấu thủ công”, ông Quyết khẳng định.
Bởi thế, thứ “rượu quê” này được bán ra với giá rất rẻ. Khảo sát của PV cho thấy, tại làng Vân, nếu giao buôn, rượu “men tươi” bán giá 8 nghìn đồng/lít. Còn nếu mua lẻ, giá chỉ chênh thêm mỗi lít 1 nghìn đồng. Theo ông Quyết thì dùng men tươi không những “được rượu”, mà còn “giải phóng sức lao động thủ công”, bởi người sử dụng không cần trải chiếu, trải nong nia thúng mủng như trước để trộn men, mà chỉ cần pha men vào nước, tưới đều lên cơm, rồi mang đi ủ trước khi cho vào nồi chưng cất.

Men tươi có thể mua dễ dàng tại làng Vân
Cái thứ được gọi là men tươi này, ở làng Vân, mua quá dễ. PV có thể tạt vào bất kỳ một cửa hàng tạp hóa, hoặc một đại lý bán rượu nào, là có thể mua được. Theo chỉ dẫn của ông Quyết, chúng tôi tìm mua ở một cửa hàng ngay đầu làng 3 gói men tươi với giá 45 nghìn đồng/gói. Gói men được đựng trong túi nilon màu đen, ghi trọng lượng là 500gram, bên trong là 5 túi nhỏ màu bạc. Theo “công thức” của men, mỗi túi nhỏ màu bạc có thể sử dụng cho 20kg gạo, sắn, tức là 1 túi to được dùng cho 1 tạ gạo hoặc sắn. Theo “quảng cáo” được in trên bao bì, men tươi là sản phẩm của Cty Men rượu Hà Nội. Thứ men “Hương nếp” này dùng được cho gạo tẻ và sắn, ra loại rượu thơm như rượu nếp. Đặc biệt, lượng rượu được nhiều hơn gấp đôi so với men thông thường.
Ông Quyết bảo, ở làng Vân, thứ men này đã sử dụng vài năm nay, trước kia nhập từ Trung Quốc. Nhưng thời gian gần đây, người địa phương đã nắm bí quyết sản xuất nên tự làm được. “Cũng chẳng biết họ làm ở đâu, nhưng nhu cầu thị trường đang cao nên men này bán khá chạy”, ông Quyết cho hay.
Là người có thâm niên và đau đáu với nghề nấu rượu truyền thống, ông Quyết rất bức xúc trước “vấn nạn” mà gia đình ông và các hộ nấu rượu ở đây đang gặp phải, đó là rượu làng Vân bị mang tiếng. Ông Quyết bảo, “sự cạnh tranh không lành mạnh” trên đã khiến nhiều gia đình làm ăn đứng đắn ở đây khóc dở mếu dở, bởi rượu sản xuất ra không bán được.
Ông Quyết tính toán: “Thường cứ nấu 10 kg gạo sẽ thu được khoảng 7-7,5 lít rượu. Giá 1 kg gạo rẻ cũng trên dưới 10 nghìn đồng, vị chi tiền gạo đã hết cả trăm nghìn đồng rồi, chưa kể tiền than, tiền men, tiền vận chuyển... Bán 7,5 lít rượu với giá 10 nghìn đồng/lít mới chỉ thu về 75 ngàn đồng. Tính sơ đã thấy lỗ nặng. Ai dại gì mà đi nấu rượu để bán nữa”.

Sắn chất đống bên đường để chờ ủ men tươi
Ở làng Vân, hiện nhiều gia đình đã thay thế gạo bằng sắn để nấu rượu. Dọc hai bên đường vào làng, những đống sắn lớn tràn phủ kín lối đi, có chỗ chỉ lách qua được bằng xe máy. Ông Quyết bảo: “Sắn đó dùng để nấu rượu đấy. Giá chỉ 5 nghìn đồng/kg, “kinh tế” hơn nhiều so với nấu bằng gạo”. Tuy nhiên, theo ông Quyết, dù có nấu rượu sắn nhưng làm nghề “thật thà” thì cũng chẳng thể nào làm ra được thứ rượu bán buôn với giá trên 8 nghìn đồng/lít. “Ở đây, đa phần các hộ dân đều nấu rượu gạo để bán. Nhà tôi cũng nấu rượu gạo nguyên chất, bán với giá 15 nghìn đồng, 17 nghìn đồng và 30 nghìn đồng/lít tùy thuộc vào độ rượu và chất lượng nhưng lợi nhuận thu về chẳng được bao nhiêu, nói đúng hơn chỉ lấy công làm lãi thôi”, ông Quyết bảo.
Công khai làm rượu giả
Chỉ cách làng Vân một chuyến phà qua sông Như Nguyệt, thôn Đại Lâm, xã Tam Đa (Yên Phong, Bắc Ninh) chính là “đại bản doanh” sản xuất rượu quê giả. Những thùng nhựa màu xanh dựng rải rác dọc từ đầu đến cuối con đường thôn như minh chứng cho việc làm rượu giả một cách công khai. Và, đây mới chính là nơi làm ra thứ rượu kinh hoàng mà nếu đọc được thông tin dưới đây, các bợm nhậu sẽ phải suy nghĩ lại trước khi nâng chén.
Ông Quyết dẫn tôi qua phà, đi vào làng Đại Lâm. Vừa đi ông vừa bảo, nếu rượu gạo mà chứa trong những thùng nhựa thế kia thì vứt đi, bởi nó sẽ nhạt và bớt ngon. Tuy nhiên, những thùng nhựa này là tỏ ra thích hợp cho việc chế biến rượu cồn. Công thức chế biến rượu cồn cũng cực kỳ đơn giản: Mỗi thùng dung tích 200 lít, được bơm đầy nước. Sau đó cho 20 lít rượu sắn nhập từ làng Vân, cho thêm một lượng nhất định cồn hoa quả bán trôi nổi trên thị trường, quấy đều để tạo ra thứ rượu gạo giá cực rẻ, có mùi vị y như rượu thật.
Để mục sở thị “công nghệ chế tác” rượu từ cồn hoa quả, nhập nhoạng tối, ông Quyết dẫn chúng tôi đi sâu vào làng. Ngay ven đường, từng nhóm người đang dùng máy bơm để bơm nước vào thùng. Một số người khác thì dùng tuy-ô (ống nhựa nhỏ - PV) để hút một thứ chất lỏng gì đó vào trộn lẫn. Sau khi hoàn tất công đoạn trộn các chất lỏng, một phụ nữ với lấy cây gậy ở bên cạnh, một đầu có gắn chiếc phễu nhỏ kèm theo cái nhiệt kế nhúng xuống thùng nước rồi lấy lên xem thử. Hình như rượu pha chưa đủ độ (nhìn vào vạch trên nhiệt kế có thể biết được độ rượu - PV) nên họ lại cho thứ chất lỏng bí mật đựng sẵn ở chậu vào thùng và lặp lại thao tác như đã nêu trên.
“Cách thức pha cồn hoa quả và nước lã thành rượu gạo không chỉ giá thành siêu rẻ mà còn không phải nổi lửa, không phải chưng cất, không phải tốn nhiều diện tích mặt bằng”, ông Quyết cho biết. Theo ông, cồn hoa quả có giá khoảng 15 nghìn đồng/lít và thường thì 1 lít cồn hoa quả có thể pha chế với nước lã để tạo thành nhiều lít rượu gạo.

Những thùng nhựa dùng đựng rượu cồn hoa quả
Rượu sắn nấu bằng “công nghệ men tươi” thường có mùi nồng, hắc, không thơm như rượu gạo và rất khó uống, không được các “ma men” ưa chuộng. Để “khử” những đặc tính bất lợi này, dân nấu rượu siêu rẻ còn phải thực hiện thêm một thủ thuật khác, tuy đơn giản nhưng lại đạt hiệu quả rất cao. Cách đó là pha thêm nước và đường hóa học với công thức: 10 lít rượu sắn + 2 lít nước + 5 viên đường hóa học, rồi cho tất cả vào thùng, đậy kín, lăn qua lăn lại là được rượu gạo thơm, rẻ.
Ông Quyết cho biết, cồn hoa quả nghe đâu được đưa từ Quảng Ngãi ra nhưng giờ ở địa phương cũng tự sản xuất được rồi. Một số hộ kinh doanh lấy cồn hoa quả, pha với nước lã và rượu sắn để làm rượu gạo bán cho các mối hàng ở xa. Rượu nặng hay nhẹ phụ thuộc vào tỷ lệ cồn/nước/rượu sắn và nhu cầu của khách hàng. Việc làm rượu pha nước lã và cồn hoa quả ở Đại Lâm có từ nhiều năm nay, cùng thời với “công nghệ rượu men tươi” ở làng Vân. Tuy nhiên, từ trước đến nay ông Quyết vẫn chưa nghe nói, hay chưa được chứng kiến vụ bắt bớ hay dẹp bỏ của chính quyền địa phương với vấn nạn này.
Ông Vũ Đình Minh, Phó Chủ tịch UBND xã Tam Đa cũng thừa nhận với PV việc này. Theo ông Minh, Đại Lâm từ lâu đã có tiếng về nghề nấu rượu gạo. Tuy nhiên, từ năm 2000, một số người đã đưa công nghệ “pha chế rượu từ cồn và nước lã” về làng khiến cho nghề nấu rượu truyền thống nơi đây bị mai một dần. Từ chỗ có tới 80% số hộ dân trong làng có bếp nấu rượu, giờ con số đó chỉ còn chưa đầy 30%. Mỗi ngày ước chừng có không dưới 10 nghìn lít rượu lên xe rời khỏi Đại Lâm.

Thứ Sáu, 15 tháng 3, 2013

Triều Tiên quyết ‘chơi bài ngửa’ với Trung Quốc: kêu gọi người dân chuẩn bị chiến tranh với Hàn Quốc

Thứ ba, 12/03/2013, 16:57 (GMT+7)


Ngày 11-3, tờ Liên hợp buổi sáng (Singapore) đăng bài bình luận về sự kiện Triều Tiên hủy Hiệp định đình chiến với tựa đề: Ván cược của Triều Tiên.
Nội dung bài viết như sau:
Tối 5-3, Đài truyền hình Triều Tiên đã đưa tin người phát ngôn của Ủy ban quốc phòng Triều Tiên tuyên bố hủy “Hiệp định đình chiến Triều Tiên” ký năm 1953, ném “quả bom” gây chấn động cả cộng đồng quốc tế.
Một điều đáng chú ý là việc Triều Tiên lựa chọn thời điểm thông báo thông tin này vào lúc 7 giờ tối, xét ở một mức độ nào đó là gây sức ép “đánh đòn phủ đầu” cho cuộc hội nghị bàn về vấn đề trừng phạt Triều Tiên khi nước này thử hạt nhân lần thứ ba do Hội đồng bảo an Liên hợp quốc tổ chức diễn ra vào ngày 7-3.
Nhà lãnh đạo trẻ Kim Jong Un thị sát các đơn vị quân đội và tuyên bố Triều Tiên đã sẵn sàng cho một cuộc chiến tổng lực.
Bình Nhưỡng có đạt được kết quả như mong muốn? Đây vẫn là một ẩn số, tuy nhiên có thể khẳng định rằng, hành động này sẽ làm tăng thêm biến số mới cho cục diện bán đảo Triều Tiên vốn đang rất căng thẳng, và Bình Nhưỡng cũng bắt đầu đi vào con đường đánh cược bằng vận mệnh quốc gia.
Giá trị và lỗ hổng trong “Hiệp định đình chiến”
Hiệp định đình chiến Triều Tiên được ký kết hồi tháng 7-1953 tại làng Panmunjeom – giới tuyến phân cách Nam Triều Tiên và Bắc Triều Tiên bởi ba bên Triều Tiên, Trung Quốc và Liên Hợp Quốc đứng đầu là Mỹ sau khi chiến tranh Triều Tiên kéo dài 3 năm mà không đạt được kết quả gì.
Hiệp đình đình chiến này có 3 ý nghĩa: Một là hai bên tham gia chiến tranh Triều Tiên chính thức ngừng bắn và đưa ra những quy định cụ thể trong vấn đề ngừng bắn đối với hai bên; Hai là xây dựng vùng đệm quân sự Panmunjeom ngăn cách giữa hai miền Triều Tiên rộng khoảng 4 km.
Đây được coi là khu vực phi quân sự để hai bên Triều Tiên, Hàn Quốc né tránh lửa đạn; Ba là xác lập quãng thời gian có hiệu lực khi các điều khoản trong hiệp định chưa được chỉnh sửa và bổ sung theo sự đồng ý của hai bên, từ đó tạo ra một hiệp định đình chiến “vô thời hạn”.
Xét về bối cảnh tại thời điểm đó, hiệp định này liên quan trực tiếp với việc cả hai quốc gia là Triều Tiên và Hàn Quốc đều không thể thống nhất bán đảo Triều Tiên bằng sức mạnh của mình, đồng thời hai nước đứng sau Triều Tiên và Hàn Quốc là Trung Quốc, Mỹ đã phải trả giá quá đắt khi bị kéo vào cuộc chiến tranh này.
Chính vì vậy, dựa vào việc ký kết Hiệp định đình chiến để giảm bớt những thiệt hại tiếp theo là phù hợp với lợi ích của 4 bên. Tuy nhiên, bản thân hiệp định này lại tồn tại khá nhiều lỗ hổng.
Thứ nhất, vấn đề chủ yếu mà hiệp định này giải quyết là sự đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Triều Tiên với quân đội Liên Hợp Quốc đứng đầu là Mỹ, chính vì thế khi kí kết, sự vắng mặt của Hàn Quốc đã gây ra nhiều tranh cãi khi thực hiện Hiệp định này.
Seoul đã nhiều lần lấy cớ không ký tên vào Hiệp định đình chiến và liên tục thể hiện lập trường cứng rắn với Triều Tiên, quốc gia này cũng tỏ ra rất tự do khi tham gia các cuộc tập trận quân sự với Mỹ, điều này đã khiến Bình Nhưỡng đưa ra kết luận rằng Hàn Quốc đã đi ngược lại tinh thần “đình chiến”, từ đó khiến hai bên mất đi niềm tin với nhau.
Thứ hai, hai bên ký hiệp định không thể trở tiếp tục trở thành người thực thi hiệp định. Mặc dù dư luận quốc tế luôn cho rằng Trung Quốc và Mỹ không ngừng quan tâm đến bán đảo Triều Tiên, nhưng một điều không thể phủ nhận là kể từ năm 1953, sau khi Hiệp định đình chiến được ký kết, hai quốc gia này không thể hiện vai trò của người thực thi hay giám sát hiệp định một cách liên tục.
Một thời gian dài sau khi ký kết hiệp định, cả Trung Quốc và Mỹ đều không đặt bán đảo Triều Tiên vào vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược đối ngoại của mình.
Sau khi ổn định được phương Bắc, dần dần Trung Quốc tập trung cho hoạt động phát triển kinh tế trong nước, rồi sau đó tập trung vào vấn đề lãnh thổ và chủ quyền ở phía Nam. Còn Mỹ thì không ngừng mở rộng tầm nhìn chiến lược ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương vượt xa bán đảo Triều Tiên.
Điều này khiến cho mỗi khi Hàn Quốc lấy cớ không ký tên và “kích nộ” Triều Tiên, đã thiếu hẳn một cơ chế giám sát ở vòng ngoài yêu cầu hai nước Triều Tiên và Hàn Quốc tuân thủ khung hiệp định đình chiến.
Thứ ba, Bình Nhưỡng biến hiệp định thành công cụ để thực hiện “sức mạnh mềm” của mình. Mặc dù 3 bên tham gia ký hiệp định, nhưng cả Trung Quốc và Mỹ đều không phải là người thực hiện hiệp định, Triều Tiên là bên duy nhất đóng vai trò chủ đạo trong hiệp định này.
Điều này đã khiến Bình Nhưỡng tìm được kẽ hở để duy trì sự cân bằng giữa Trung Quốc và Mỹ: vừa lấy danh nghĩa tình hữu nghị Triều Tiên – Trung Quốc và hiệp định cùng ký kết để tìm kiếm sự viện trợ từ phía Bắc Kinh, đồng thời lại dùng hiệp định để đe dọa Mỹ.
Triều Tiên tự kéo mình vào vùng lầy?
Tháng 5-2009, Triều Tiên lấy li do Hàn Quốc chính thức tham gia vào Sáng kiến An ninh chống phổ biến vũ khí (PSI) do Mỹ khởi xướng, đẩy cục diện bán đảo Triều Tiên vào “tình trạng chiến tranh”, tuyên bố sẽ không chấp nhận sự trói buộc của hiệp định đình chiến. Sau khi hiệp định này mất hiệu lực, bán đảo Triều Tiên sẽ quay trở lại với tình trạng chiến tranh như xưa, quân đội Triều Tiên sẽ áp dụng các chiến dịch quân sự tương ứng.
Nói cách khác, xét về lý, kể từ tháng 5-2009, Hiệp định đình chiến đã mất đi người thi hành thực sự. Nhưng một điều thú vị là, lúc đó Bình Nhưỡng đã khéo léo lấy danh nghĩa “không chấp nhận sự trói buộc” để tránh cho hiệp định mất toàn bộ hiệu lực.
Tuy nhiên, lần này việc Bình Nhưỡng tuyên bố không thừa nhận hiệp định đình chiến lại có bối cảnh hơi khác với năm 2009. Sau khi hoàn thành vụ thử hạt nhân lần thứ ba, hai nước Mỹ và Hàn Quốc đã thể hiện rõ lập trường cứng rắn với Hàn Quốc.
Ý định dùng hiệp định để “bắt chẹt” Mỹ và Hàn Quốc – quốc gia vốn không ký tên trên hiệp định của Triều Tiên dường như không có tác dụng lớn. Vậy việc lấy một hiệp định “hữu danh vô thực” ra để dọa nạt dường như là nhằm vào chính Trung Quốc.
Theo nguồn tin từ phía Mỹ, chính phủ nước này đã đạt được nhận thức chung rất với các bên bao gồm cả Trung Quốc về vấn đề trừng phạt Triều Tiên. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cũng đã công khai ủng hộ việc trừng phạt một cách thích đáng đáng này để thực hiện mục tiêu phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên. Động thái này rất ít khi xảy ra ở Trung Quốc – quốc gia nhiều năm qua vốn luôn âm thầm dung túng Triều Tiên “gây chuyện thị phi”.
Trung Quốc theo đuổi mục tiêu phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên cũng là yếu tố quan trọng để ngành công nghiệp phía Bắc Trung Quốc được an toàn. Huống hồ Trung Quốc lại luôn cho rằng mình là nước lớn cần có trách nhiệm với nền hòa bình của thế giới, thường xuyên phải “đỡ đạn” cho những hành vi bị Mỹ liệt vào “quốc gia khủng bố”.
Rõ ràng điều này không phù hợp với mục tiêu chiến lược quốc tế của Trung Quốc. Chính vì vậy, phản ứng của Trung Quốc trong vấn đề này cũng là điều dễ hiểu, và nó cũng phù hợp với lợi ích của Trung Quốc.
Tuy nhiên đối với Triều Tiên, e rằng quốc gia này sẽ phải đối mặt với hoàn cảnh khó khăn do Trung Quốc, Mỹ, Hàn Quốc, thậm chí cả Nhật Bản liên kết tạo nên, đây là cục diện mà hai cựu lãnh đạo Triều Tiên trước đây là Kim Nhật Thành và Kim Jong Il luôn nỗ lực né tránh.
Chính vì những lý do trên, trong thời điểm này việc Bình Nhưỡng tuyên bố không thừa nhận hiệp định đình chiến đã không còn có ý nghĩa. Hành động này không chỉ là việc chơi bài ngửa với Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, mà còn trực tiếp gây sức ép cho Trung Quốc bằng những hành động rầm rộ chuẩn bị nổ súng bất cứ lúc nào.
Với vai trò là “chốt an toàn” duy trì nền hòa bình và sự ổn định cho bán đảo Triều Tiên hơn nửa thế kỷ, nhưng hiệp định đình chiến ký kết năm 1953 sau khi bị Triều Tiên phá chốt hết lần này đến lần khác, cục diện bán đảo Triều Tiên vốn rất mong manh đang phải đối mặt với mối nguy hiểm mới.
Trong lúc các bên đều chưa thể dự đoán cái giá mà mình phải trả trong vòng đua tới, làm thế nào để duy trì hiện trạng, tránh cho khủng hoảng leo thang đã trở thành thước đo đánh giá trí tuệ và sự nhẫn nại của các bên.

Hãng tin Yonhap của Hàn Quốc hôm 15-3 đưa tin, CHDCND Triều Tiên đang tập hợp lực lượng, kêu gọi lòng yêu nước trong thời chiến tranh của đông đảo quần chúng nhân dân. 

Rodong Sinmun, tờ báo chính thống của CHDCND Triều Tiên, kêu gọi “tinh thần bảo vệ tổ quốc như những năm 50” của người dân trong số báo phát hành hôm nay, 15-3.
Tờ báo viết: “Bây giờ, đất nước chúng ta gần như đang bước vào giai đoạn chiến tranh, tinh thần bảo vệ tổ quốc của những năm 1950 đã trở thành tài sản tình cảm vô giá và là nguồn động viên”.
Triều Tiên kêu gọi người dân chuẩn bị chiến tranh
Triều Tiên kêu gọi người dân chuẩn bị chiến tranh
Theo báo này, tinh thần của những năm 1950 có nghĩa sẵn sàng đổ máu để “bảo vệ mỗi tấc đất của tổ quốc”. Tờ báo nói thêm, tinh thần yêu nước mạnh mẽ này đã giúp đất nước bảo vệ mình, chống lại Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953.
“Với tinh thần đó, công dân hiện nay nên được trang bị lòng quết tâm, sự táo bạo để loại Mỹ ra khỏi thế giới”, tờ báo viết.
Một tờ báo khác cũng có bài viết tương tự vào tuần trước, kêu gọi nhân dân làm sống lại tinh thần yêu nước mạnh mẽ của mình.
Các nhà phân tích của Hàn Quốc cho rằng, động thái mới nhất này phản ánh nỗ lực của Triều Tiên trong việc đoàn kết người dân chống lại những chỉ trích và trừng phạt mà Liên Hợp Quốc áp dụng đối với Triều Tiên sau vụ thử hạt nhân lần ba.
Ông Kim Yong Hyun, giáo sư nghiên cứu Triều Tiên tại đại học Dongkuk (Hàn Quốc) cho biết: “Triều Tiên đang cố gắng khơi dậy quá khứ chiến tranh Triều Tiên nhằm tăng thêm sự tự tin trong cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ”.
Đối phó lại các biện pháp trừng phạt của Liên Hợp Quốc và các cuộc tập trận chung Mỹ – Hàn đang diễn ra, gần đây, CHDCND Triều Tiên liên tục đe dọa về cuộc chiến hạt nhân, làm tăng thêm căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
Theo các nhà phân tích, chìa khóa cho việc giải tỏa căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên đang nằm trong tay Mỹ và Triều Tiên.

Ngay sau khi nghị quyết mới về trừng phạt Triều Tiên của LHQ (7/3) được thông qua. Triều Tiên đã phản ứng quyết liệt bằng cách đe dọa sẽ khởi động một “cuộc tấn công hạt nhân phòng ngừa”, tuyên bố xóa bỏ Hiệp định đình chiến 1953 và thỏa thuận không gây hấn lẫn nhau năm 1991 với Hàn Quốc.
Hiện nay, cả hai bên đều tăng cường các hoạt động quân sự tại khu vực biên giới. Các nhà phân tích cho rằng, những động thái nêu trên của hai bên đã làm gia tăng căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên lên mức cao nhất so với nhiều năm trước đây.
“Cứng rắn” có cơ sở?
Hãng Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) ngày 13/3, dẫn tuyên bố của Bộ các Lực lượng vũ trang Triều Tiên khẳng định, Hiệp định đình chiến kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1950-1953 và các thỏa thuận không gây hấn giữa hai miền hiện không còn giá trị nữa.
Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong-un đang nhìn về phía đảo Baengnyeong nằm ở phía bắc Hàn Quốc, gần giới tuyến giữa 2 miền, trong chuyến thăm 1 đơn vị phòng thủ ở đảo Wolnae của Triều Tiên
Lãnh tụ Triều Tiên Kim Jong-un đang nhìn về phía đảo Baengnyeong nằm ở phía bắc Hàn Quốc, gần giới tuyến giữa 2 miền, trong chuyến thăm 1 đơn vị phòng thủ ở đảo Wolnae của Triều Tiên
KCNA cho biết, Triều Tiên đã chọn Mỹ và quân đội Hàn Quốc làm mục tiêu cho tất cả hành động của mình nhằm bảo vệ chủ quyền, đồng thời Washington cùng Seoul sẽ là mục tiêu chính của hành động trả đũa quân sự “không thương tiếc chống lại những kẻ thù của Triều Tiên”.
Các máy bay chiến đấu của Triều Tiên cũng ồ ạt xuất kích, lên tới 700 lần trong ngày 11/3, khi cuộc tập trận “Giải pháp then chốt” giữa Mỹ và Hàn Quốc diễn ra. Số lượng các chuyến bay xuất kích được cho là “lớn chưa từng thấy”, gấp 6 lần số lượng tối đa các chuyến bay trong đợt huấn luyện của quân đội Triều Tiên vào mùa hè năm ngoái.
Theo Thời báo New York Times, Triều Tiên đã bắt đầu sơ tán Chính phủ và người dân vào những đường hầm vốn được xây dựng sẵn sàng cho tình trạng khẩn cấp. Các nhà chức trách Hàn Quốc mô tả động thái này là nhằm chuẩn bị cho chiến tranh.
Ngày 9/3, Ken Gause, chuyên gia người Mỹ, Giám đốc Nhóm các vấn đề Quốc tế tại CNA – một tổ chức nghiên cứu liên quan đến quốc phòng ở Alexandria, bang Virginia, nhận xét rằng nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un dường như đang tìm kiếm một ván bài có lợi hơn với Mỹ so với trước đây vì tin rằng ông đã có nhiều hơn những gì để mặc cả với Mỹ.
Chuyên gia Gause nhận xét những lời đe dọa gần đây của Triều Tiên không được xem là “sự khoa trương bình thường”. “Nó phản ánh một chiến lược phát triển của Bình Nhưỡng để can dự với Mỹ trực tiếp hơn”.
Dưới thời cố lãnh đạo Kim Jong-Il, Triều Tiên đã từng đưa ra những lời đe dọa tương tự như hủy bỏ các thỏa thuận đình chiến và không xâm lược. Tuy nhiên, những lời đe dọa gần đây khác với trước. Vì “Quyết định hủy bỏ lần này dường như vô điều kiện hơn và không phải là những thủ đoạn về ngữ nghĩa”.
Căng thẳng xung quanh khu vực biên giới đã khiến nhiều người dân Hàn Quốc lo ngại. Một người dân bày tỏ: “Tôi không nghĩ rằng, phía Triều Tiên đe dọa. Những lời đe dọa có thể biển thành sự khiêu khích làm cho người dân chúng tôi rất lo lắng. Chúng tôi hy vọng chính phủ sẽ xây dụng một kênh đối thoại kịp thời với Triều Tiên nhằm giải tỏa mối lo lắng của chúng tôi”.
Trong mấy ngày gần đây tại Bình Nhưỡng đã xuất hiện các biểu ngữ chính trị mới. Trong đó, tấm biểu ngữ treo trên một tòa nhà chính phủ có nội dung: “Đã đến lúc cho cuộc chiến vĩ đại để thống nhất tổ quốc của chúng ta. Hãy hủy diệt toàn bộ kẻ thù của chúng ta”.
Muốn được công nhận là quốc gia hạt nhân
Mỹ và các đồng minh của Mỹ tập trung vào việc phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, nhưng Bình Nhưỡng lại quan tâm nhiều hơn tới việc đàm phán về một chế độ hòa bình và mục tiêu là Triều Tiên được công nhận như một cường quốc hạt nhân.
Triều Tiên thử hạt nhân
Triều Tiên thử hạt nhân
Chuyên gia phân tích, ông Gause cho rằng: “nhà lãnh đạo Triều Tiên không thể thoái lui từ chiến lược hiện tại vì như vậy, đặc biệt là trước áp lực của thế giới, sẽ làm suy yếu tính hợp pháp và sự lãnh đạo của mình. Bình Nhưỡng đang tiếp tục chuyền quả bóng sang sân Mỹ. Thật khó dự đoán liệu một cuộc đụng độ vũ trang sẽ xảy ra sớm hay không, liệu tình hình căng thẳng gia tăng trên bán đảo Triều Tiên có thể còn có nhiều cơ hội cho những nỗ lực ngoại giao để tái khởi động các cuộc đàm phán hay không”.
Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Triều Tiên còn nói nước này có thể sẽ thực hiện cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu chống lại kẻ thù trong trường hợp Bình Nhưỡng bị tấn công. “Vì Mỹ sắp châm ngòi một cuộc chiến hạt nhân, chúng tôi sẽ thực hiện quyền của mình bằng cách tiến hành cuộc tấn công hạt nhân phủ đầu vào sào huyệt của những kẻ gây sự nhằm bảo vệ quyền lợi tối cao của chúng tôi”.
Các nhà phân tích cho rằng, trở thành quốc gia hạt nhân đã là mục tiêu bất di bất dịch của Triều Tiên nhằm khẳng định vị thế của mình với Hàn Quốc và khu vực Đông Bắc Á.
Muốn đàm phán trực tiếp với Mỹ
Chuyên gia Ken Gause còn cho biết chuyến đi của cựu ngôi sao bóng rổ NBA Dennis Rodman đến Triều Tiên hồi tuần trước cho biết nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong Un nói rằng: “ông muốn một cuộc gọi điện thoại từ Tổng thống Barack Obama”.
Ông Gause đề nghị: “Mỹ cần thăm dò các cách thức tham gia trong tương lai của Triều Tiên và nên bắt đầu với việc trở lại các cuộc gặp theo các kênh. Tôi nghĩ chuyến đi của Rodman thực sự rất thú vị và hữu ích”.
Một diễn biến khác, trong chuyến công du tới Trung Đông của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry cũng bày tỏ hy vọng rằng nhà lãnh đạo Triều Tiên sẽ tham gia vào “các cuộc đối thoại, đàm phán hợp pháp”.
Cũng theo, ông Gause, một loạt ngôn từ mạnh mẽ đe dọa bằng quân sự của Triều Tiên trong lần này phản ánh những ý định táo bạo hơn của Kim Jong Un. Chẳng hạn như, đã đặt tên lửa đạn đạo liên lục địa mang đầu hạt nhân ở chế độ chờ trên bệ phóng…
Với việc cắt đứt “đường dây nóng” trực tiếp với Seoul của Bình Nhưỡng lần này có thể là sự “nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của lời đe dọa”. Hình như ông Kim Jong Un đang cố gắng chơi một “nước cờ” với Mỹ táo bạo hơn cha của mình.
Như vậy, với những động thái mới của Triều Tiên sau khi LHQ thông qua lệnh trừng phạt về vụ thử hạt nhân hồi tháng trước cho thấy: Triều Tiên đã có bước đột phá chiến lược để thoát khỏi vòng khương tỏa của Mỹ đối với họ, trên cơ sở tiềm lực hạt nhân được gia tăng trong mấy năm gần đây. Vì thế, các nhà phân tích cho rằng chìa khóa cho việc giải tỏa căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên hiện đang nằm trong tay của cả Mỹ và Triều Tiên./.