Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2011

Phát ngôn Tuần Việt Nam: Vận nước!

Không biết các cơ quan chức năng, pháp luật của Việt Nam rồi đây sẽ xử lý, ngăn chặn và đẩy lùi hiểm họa Tham nhũng, Lợi ích nhóm đến đâu? Chỉ biết với đà này, anh em nhà tham nhũng và lợi ích nhóm có cơ đẩy lùi... "vận nước".
Có một con bệnh làm suy yếu xã hội đã quá nhiều năm, nhưng lúc nào cũng khiến nhân dân bừng bừng "bốc hỏa", vì nó liên quan nhãn tiền đến vận nước. Bởi tuy nguy hiểm nhưng nó ẩn họa trong cơ thể xã hội quá kín đáo và khéo léo. Đến nỗi mọi thang thuốc chữa trị đến giờ vẫn không có hiệu quả là bao.
Đó là con bệnh Tham nhũng
Quan "tham" và dân "gian"
Báo cáo của Tổng Thanh tra CP tại phiên họp Quốc hội ngày 24/10 mới đây cho biết, từ 1/10/ 2010 đến 31/7/2011, cơ quan điều tra các cấp đã khởi tố 163 vụ tham nhũng (có 349 bị can). Viện Kiểm sát Nhân dân các cấp đã truy tố 194 vụ tham nhũng (391 bị can). Tòa án Nhân dân các cấp đã xét xử sơ thẩm 171 vụ (409 bị can)
Đã có 67 trường hợp người đứng đầu bị xử lý kỷ luật vì thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực quản lý, trong đó cách chức 14 người, cảnh cáo 16, khiển trách 34...
Thế nhưng, thảo luận về tình hình thực hiện công tác này, nhiều Ủy viên Thường vụ QH băn khoăn, con số thất thoát do tham nhũng lên tới 11.400 tỉ đồng, chỉ mới thu hồi được hơn 300 tỉ (2,6%), một tỷ lệ hơi bị... bèo. Chính phủ cũng nhận định, tham nhũng vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp.
Đẩy lùi tham nhũng là đòi hỏi khẩn thiết của nhân dân
Cũng xin nói thẳng, tham nhũng không phải là "nỗi khổ của riêng ai".
Nó là căn bệnh của mọi quốc gia, từ tiên tiến văn minh, đến chậm tiến. Nhưng chắc chắn nó sẽ giảm bớt, nếu cơ chế quản lý xã hội quốc gia đó tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, và thiết kế phù hợp quy luật phát triển.
Đáng chú ý, tham nhũng giờ cũng không buông tha ai.
Không chỉ các quan chức có chức quyền bị tiền ăn, mà tiền còn ăn ngay chính cán bộ, nhân viên cơ quan công quyền trong lĩnh vực hành chính các cấp, thầy giáo, thầy thuốc, cảnh sát giao thông, tòa án... Chả thế từ lâu có câu chí lý- quan tham, dân gian.
Tham nhũng được khái quát, nâng lên nên thành ...văn hóa- "văn hóa tham nhũng"- một thứ văn hóa đáng tủi hổ.
Để hiện tượng tham nhũng, ăn tiền mang tính hệ thống, chắc chắn có vấn đề khiếm khuyết của cơ chế quản lý xã hội.
Người viết bài tâm đắc với ý kiến của  GS. TS Đỗ Thế Tùng (Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh) phát biểu tại hội thảo do Tạp chí Cộng sản và Viện khoa học Xã hội VN tổ chức: Nếu như tham nhũng không được đẩy lùi thì nên hiểu là tham nhũng nằm ngay trong cơ chế, đang là cơ chế "nuôi dưỡng" chứ không phải đẩy lùi tham nhũng!

Tham nhũng được khái quát, nâng lên nên thành ...văn hóa- "văn hóa tham nhũng". Ảnh minh họa
Những khiếm khuyết, lỗ hổng tạo sơ hở cho tham nhũng nảy nở là gì?
Đó là cơ chế xin- cho. Cơ chế quản lý kiểu này cho con người quyền quyết định, ban cho quá lớn, nhưng lại thiếu sự giám sát, kiếm soát để kiềm chế lạm quyền. Điều đó tạo ra điều kiện tốt để tham nhũng có điểm tựa thêm... sức bật.
Đó là sự ưu đãi độc quyền, không có đối thủ cạnh tranh trong kinh tế thị trường của các doanh nghiệp Nhà nước. Ở đây, lợi ích nhóm  gắn với tham nhũng như bóng với hình. Sớm muộn, các DNNN phải được thay đổi cách thức quản trị theo thông lệ quốc tế, chứ không phải theo mệnh lệnh hành chính xin- cho như hiện nay.
Đó là tệ mua bán chức quyền, là quy định quy định công khai minh bạch tài sản quan chức, nhưng lại có "vùng cấm"...
Đó là chưa có Luật Bảo vệ nhân chứng. Trong khi các quy định hiện hành bảo vệ người tố cáo tham nhũng còn chung chung, chưa quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo đảm an toàn cho người tố giác tham nhũng.
Người Việt nào cũng nằm lòng câu triết lý sống này: "Đấu tranh, tránh đâu"? Một câu hỏi chắc chắn không có câu trả lời! Vì thế, luôn tồn tại trong xã hội nghịch lý chua chát: Người ngay sợ kẻ gian, người tốt sợ kẻ xấu, người lương thiện sợ kẻ lưu manh.
Mặt khác, bộ máy phòng chống tham nhũng từ cấp tỉnh trở xuống, lại do Chủ tịch UBND tỉnh - người có thẩm quyền ban phát xin- cho, nơi luôn tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng, quyết định và chỉ đạo. Với mô hình vừa đá bóng vừa thổi còi, ngay từ đầu, đã có nhiều tranh cãi tại Quốc hội về hiệu quả của nó.
Chẳng thế mà, mới đây Tổng Thanh tra Chính phủ Huỳnh Phong Tranh đã đề xuất đổi vai- trưởng ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng cấp tỉnh hiện nay, phải là Chủ tịch HĐND, chứ không phải Chủ tịch UBND tỉnh, hoặc cần có một cơ quan phòng, chống tham nhũng độc lập. Dư luận đang chờ đợi xem liệu những đề xuất mới này có được chấp nhận.
Chợt nhớ điệp khúc một ca từ hài hước: "Vì sao anh không nói. Vì sao anh không n...ó...i...í...í..."
Con bệnh tham nhũng còn có một kẻ họ hàng thân thiết, rất gần gũi. Nó không nham nhở về khái niệm như tham nhũng, mà có khi rất mỹ miều, bóng lộn, chải chuốt, nhân danh tập thể. Nhưng thực chất cũng mang bản chất tham lam phạm pháp, ích kỷ, chỉ biết mình...
Nó là Lợi ích nhóm
Hạt muối nhỏ- lợi ích to
Ngày 24/10 mới đây, ViêtNamNet có bài viết "Hoa mắt vì lợi trước mắt, bóp chết sản xuất trong nước".
Đọc mà bỗng thấy ...hoa cà hoa cải, vì cái cách tư duy lợi ích nhóm, nó ranh ma luồn lách. Đến hạt muối bé xíu cũng không thoát!
Theo đó, Tổng cục Hải quan vừa kết thúc chuyên án điều tra về nhập khẩu muối tại ba DN đã lộ ra không ít gian lận.
Đó là chuyện Công ty TNHH một thành viên Hóa chất cơ bản miền Nam, được Bộ Công thương cấp tới bẩy giấy phép nhập khẩu muối công nghiệp với số lượng lên tới 221.740 tấn để sử dụng vào sản xuất công nghiệp. Do đó, được hưởng thuế suất ưu đãi 15% (so với mức 50% thông thường).
Tuy nhiên, DN này chỉ bán một phần cho các đối tác phục vụ mục đích công nghiệp, còn lại để sản xuất muối ăn bán ra thị trường nội địa.
Đến lượt đối tác cũng không bỏ lỡ cơ hội. Ngưu theo ngưu, mã lại theo mã!
Muối mua về cho sản xuất công nghiệp, họ cũng bán một phần ra thị trường dưới dạng muối ăn để kiếm lời. Việc làm này kéo dài trong 5 năm liền. Khiến từ lâu, xã hội đặt câu hỏi, nước ta bờ biến hàng nghìn km, không thiếu muối. Vậy mà sao muối ăn thiếu đến nỗi phải nhập? Và cơ quan chức năng bắt đầu nghi ngờ.
Có biết đâu, muối trong nước mắt diêm dân thì thừa thãi?
Thế nhưng, khi mở rộng điều tra, cơ quan chức năng còn phát hiện, chả phải bé xíu như hạt muối mới dễ lọt. Ngay cả những lĩnh vực to và khó nhá như ngành cơ khí, cũng không thoát.
Dù có nhiều chính sách ưu đãi phát triển cơ khí trong nước, nhưng các DN trong nước vẫn bỏ qua những công trình, phần việc DN có thể làm được để thuê nhà thầu nước ngoài...
Hậu quả là ngành cơ khí trong nước lãnh đủ- ngày càng èo uột. Trong khi, "cơ khí chế tạo luôn là nòng cốt của công nghiệp sản xuất nội địa".
Lớn nhất, và mênh mông nhất là thị trường địa ốc vốn rất nhiều lợi nhuận. Nhiều DN hoa mắt và tưởng bở trước những nhà đầu tư ngoại đề ra những dự án tỷ đô. Nhưng  vốn huy động nhiều nhất cuối cùng vẫn là từ trong nước.
Cái "ngu phí' thời kinh tế thị trường nó thiên biến vạn hóa, dù các DN, anh nào cũng cứ ngỡ mình "khôn"... nhất làng!
Quá hí hửng hướng ngoại, có những dự án, đất bị chiếm rồi bỏ không, thành dự án treo làm khổ người dân địa phương, làm mất cơ hội việc làm của biết bao người lao động trong nước.

Có biết đâu, muối trong nước mắt diêm dân thì thừa thãi? Ảnh minh họa
Thế thì nói gì tới các ngành dễ "nát nhừ" như thức ăn chăn nuôi, rau quả, thực phẩm chế biến...
Cứ là nhập khẩu tuốt.
Trong khi kinh tế nội địa, sản phẩm hoa quả, thực phẩm sống... trong nước không tiêu thụ nổi, và cũng chết nghẹt vì sự chèn ép của hàng nhập khẩu.
Một câu hỏi đặt ra, cơ quan quản lý Nhà nước nào đồng tình cấp phép cho các DN, để bóp chết sản xuất trong nước như vậy, với lý do dễ lọt tai là phục vụ sản xuất vì chất lượng các mặt hàng nội địa không đạt yêu cầu?
Phục vụ sản xuất hay phục vụ cái ví tiền của quản lý Nhà nước lẫn DN, bỏ mặc người lao động kiểu "sống chết mặc bay, tiền chúng ông bỏ túi"?
Cái chủ nghĩa mackeno, vì sao lại nảy nở, bắt rễ sâu trong trí não và tâm hồn những DN và quản lý Nhà nước đó đến vậy?
Thực chất nó là gì? Diện mạo nó ra sao? Hãy nghe ông Vũ Tiến Chiến (nguyên Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Phòng, chống tham nhũng TƯ) phát biểu tại ĐH Đảng lần thứ XI: "Đã xuất hiện dấu hiệu liên kết, móc nối giữa chủ doanh nghiệp với một số người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan Đảng và Nhà nước để tiêu cực, tham nhũng"
Đến hạt muối bé xíu còn không thoát khỏi thân phận nữa là...Thanks
Hạt muối nhỏ, các DN và quản lý Nhà nước biết "nhìn ra", lợi ích  to phết!
Hạt muối mặn, chỉ mặn chát với diêm dân, với lợi ích cộng đồng và quốc gia. Chưa nói đến những lĩnh vực to tát, như đất đai nhá.....
Không biết các cơ quan chức năng, pháp luật của Việt Nam rồi đây sẽ xử lý, ngăn chặn và đẩy lùi hiểm họa Tham nhũng, Lợi ích nhóm đến đâu? Chỉ biết với đà này, anh em nhà tham nhũng và lợi ích nhóm có cơ đẩy lùi..."vận nước".
Chuyện nhãn tiền!

Đề nghị Thủ tướng chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục

Tất nhiên Thủ tướng hết sức bận rộn, nhưng nếu người đứng đầu Nhà nước trực tiếp lo về giáo dục sẽ giúp giáo dục nhiều cơ hội để thực sự trở thành quốc sách - Giáo sư Hồ Tú Bảo giải thích.
LTS: Làm thế nào để thúc đẩy cải cách và nâng cao chất lượng giáo dục lâu nay luôn là một chủ đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Đây cũng là một trong những nội dung then chốt được nhiều nhân sĩ, trí thức thời gian qua sôi nổi bàn thảo, góp ý với Đảng và Nhà nước. Để có thêm góc nhìn, Tuần Việt Nam trò chuyện với Giáo sư Hồ Tú Bảo, đồng tác giả Bản ý kiến của nhóm trí thức ở nước ngoài về việc đẩy mạnh cải cách để đất nước phát triển nhanh và bền vững.


Giáo dục chậm tiến do đâu?
Thưa giáo sư Hồ Tú Bảo, vì sao trong Bản Ý kiến gần đây các giáo sư người Việt sống ở nước ngoài lại một lần nữa nhấn mạnh vào vai trò của giáo dục?
Giáo sư Hồ Tú Bảo Bản Ý kiến "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước" trình bày suy nghĩ của chúng tôi về nội lực Việt Nam và cải cách các lĩnh vực thiết yếu của đất nước: kinh tế, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa, giáo dục, và đối ngoại.
Nói một cách đại thể thì các lĩnh vực kinh tế, y tế, khoa học và công nghệ chủ yếu liên quan đến phần vật chất của một xã hội, văn hóa chủ yếu liên quan đến phần tinh thần, còn giáo dục là nền tảng của những lĩnh vực kể trên. Giáo dục nhằm đem tri thức đến cho các công dân, và do vậy chất lượng các lĩnh vực kể trên phụ thuộc vào chất lượng của giáo dục. Trong thời buổi kinh tế tri thức và khi khoa học và công nghệ đang thay đổi rất nhanh, một nền giáo dục chất lượng cao là mục tiêu tối thượng của nhiều quốc gia.
Theo tôi có hai điều cần nhấn mạnh. Một là chất lượng giáo dục của chúng ta còn thấp, chưa đáp ứng được vai trò nền tảng cho sự phát triển. Hai là giáo dục chưa được quan tâm và quyết tâm thay đổi và thực hiện, từ cấp cao nhất của Đảng và Nhà nước, như nó cần phải có. Điều này có lẽ do ảnh hưởng của giáo dục không dễ thấy và tác động của giáo dục không cấp bách như kinh tế chẳng hạn.
Làm công việc giảng dạy và nghiên cứu ở những nơi giáo dục đã thực sự là nền tảng của sự phát triển và luôn gắn bó với giáo dục Việt Nam, chúng tôi muốn một lần nữa nhấn mạnh ý kiến của mình về vai trò của giáo dục trong sự phát triển của đất nước.
Giáo dục đã được các nhà hoạch định chính sách quan tâm nâng lên thành "quốc sách hàng đầu" cách nay gần 20 năm. Nhìn lại quãng thời gian từ bấy đến nay, giáo sư có những nhận xét như thế nào về chất lượng giáo dục, đào tạo của ta?
Tôi xin trích những nhận xét về tình hình giáo dục tại Việt Nam do cả nhóm nhận xét và phân tích trong Bản Ý kiến:
"Giáo dục là vấn đề được toàn xã hội Việt Nam quan tâm nhất từ nhiều năm nay. Từ cuối thập niên 1990 nhà nước đã đưa giáo dục lên quốc sách hàng đầu, nhưng thực tế thì tình hình giáo dục ngày càng tụt hậu, sa sút, nhất là trong những năm gần đây. Một vài điểm nổi bật dễ thấy của giáo dục Việt Nam trong những năm qua như sau.
Một là chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Nhìn tổng thể, giáo dục Việt Nam chưa đào tạo đủ những người có kiến thức và năng lực để đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước. Nhân lực đào tạo ra ở cuối bậc đại học, cao đẳng và dạy nghề còn ở khoảng cách xa với đòi hỏi thực tế của các ngành nghề và xã hội.
Hai là hệ thống giáo dục phổ thông gây ra nhiều hiện tượng làm bức xúc trong xã hội như tổ chức quá nhiều kỳ thi, lãng phí sức người, sức của; dạy thêm, học thêm tràn lan; chương trình giáo dục và sách giáo khoa luôn thay đổi nhưng chất lượng không được cải thiện. Ngoài ra, bệnh thành tích và các tệ nạn tham nhũng trong giáo dục hết sức phổ biến.
Ba là giáo dục đại học có chất lượng nói chung còn thấp, gần đây lại phát triển hỗn loạn với nhiều trường tư chạy theo lợi nhuận lại được cấp phép bừa bãi, không đáp ứng một quy hoạch có cân nhắc nào. Tình trạng nói trên dẫn đến hiện tượng "tị nạn giáo dục", khi những người giàu có ở Việt Nam, kể cả các quan chức, đều tìm cách cho con em ra nước ngoài học, thậm chí từ cấp phổ thông.
Bốn là bằng cấp trở thành mục đích, là cứu cánh của cả xã hội, và các tệ nạn học vẹt, học tủ, bằng giả, gian lận trong thi cử, ... không hề được bài trừ một cách kiên quyết. Nhiều quan chức bị tố cáo trên báo chí về việc dùng bằng giả hay gian lận thi cử rồi cũng được bỏ qua, thậm chí được bổ nhiệm chức vị cao hơn. Hiện tượng mua bằng, sao chép luận án, thuê viết luận án, v.v. đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức học đường nói riêng và toàn xã hội nói chung.

Năm là chế độ phong chức danh phó giáo sư và giáo sư ở đại học còn nhiều bất cập. Các tiêu chuẩn phong chức danh hiện nay không khuyến khích nhà giáo đại học hướng đến những nghiên cứu khoa học đích thực, có ý nghĩa mà thường làm những việc để dễ có "điểm" theo quy định không đâu có của việc phong chức danh. Ngoài ra, các chức danh này lẽ ra chỉ dành cho người giảng dạy đại học hoặc nghiên cứu khoa học, nay được phong ở nhiều ngành cho nhiều người vốn không có vị trí giảng dạy đại học hay nghiên cứu ở cơ quan khoa học, làm cho nhiều quan chức hành chính nhảy vào tham gia công việc của đại học một cách không thích đáng.
Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng sa sút của giáo dục đã được bàn luận rộng rãi, chúng tôi cho rằng các nguyên nhân sau đây là chính yếu.
Giáo dục của Việt Nam trong những năm qua thiếu một tầm nhìn chiến lược tổng thể; thiếu kiên quyết theo đuổi một triết lý giáo dục xác định; thiếu kế hoạch đồng bộ từ cơ cấu tổ chức đến triển khai các hoạt động giáo dục; ở rất nhiều nơi, sự cứng nhắc và áp đặt của hệ thống chính trị đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động giáo dục. Thêm nữa là nội dung giáo dục nặng nề, phương pháp dạy và học lạc hậu, chậm đổi mới; và trên hết là thiếu những người lãnh đạo ngành giỏi cùng một đội ngũ quản lý giáo dục hiệu quả. Những cố gắng thay đổi của ngành giáo dục trong những năm qua thường mang tính vụn vặt, chắp vá, nhiều khi do một vài quyết định vội vã và càng làm tình hình thêm rối.
Và, lương của giáo viên quá thấp làm họ không thể vô tư toàn tâm toàn ý với công việc. Do giáo viên phải tự bươn chải trong một xã hội cha mẹ sẵn sàng làm mọi việc cho sự học của con cái, nhiều tiêu cực đã nảy sinh, ảnh hưởng đến tư cách và hình ảnh người thầy, vốn là điều kiện tiên quyết cho thành bại của giáo dục".
Đề nghị Thủ tướng chịu trách nhiệm trực tiếp về giáo dục
Phát biểu của các nhà lãnh đạo đều quả quyết: "nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người", nhưng thực tế cho thấy nguồn lực này đã không bắt kịp ánh sáng từ cuộc đối mới do đảng khởi xướng. Vậy, theo giáo sư, cần phải làm những gì để nguồn lực con người Việt Nam đáp ứng kịp nhu cầu phát triển của đất nước?
Đây thật sự là một câu hỏi lớn mà để trả lời cần nhiều nghiên cứu thấu đáo. Giáo dục là chuyện của mọi nhà và được bàn luận hằng ngày trên các phương tiện truyền thông, nên hầu như mọi chuyện đều là "biết rồi, nói mãi". Trong một khuôn khổ hạn chế, chúng tôi chỉ nêu ra vài ý kiến như sau.
Về tổng thể, do tầm quan trọng và tình hình ngày càng xuống cấp của giáo dục, "chúng tôi đề nghị Thủ tướng trực tiếp chịu trách nhiệm về giáo dục, cụ thể là chỉ đạo nội dung cải cách, theo sát việc triển khai các chiến lược, chính sách, và chịu trách nhiệm về kết quả của các cải cách lớn." Tất nhiên Thủ tướng hết sức bận rộn, nhưng nếu người đứng đầu Nhà nước trực tiếp lo về giáo dục sẽ giúp giáo dục nhiều cơ hội để thực sự trở thành quốc sách.
Về cải tổ giáo dục, "một trong những nội dung cải cách cấp bách phải là nâng cao vị thế của người thầy, bắt đầu từ đồng lương đủ sống và nuôi gia đình. Từ đó tiến đến việc thiết lập lại sự trung thực trong học tập và thi cử, trả lại tính trong sáng của tuổi trẻ cho học trò, tạo điều kiện cho những tài năng nảy nở. Một nội dung nữa là tôn trọng quyền tự do học thuật và tư tưởng ở đại học cũng như trong các hoạt động trí thức, văn hoá nghệ thuật, tạo ra sức thu hút đối với tuổi trẻ và qua đó giúp thế hệ trẻ có động lực phấn đấu mạnh mẽ, có ý thức công dân cao và hoài bão phát triển đất nước".
Về một số biện pháp cần làm ngay để giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu, chúng tôi cho rằng cần "triệt để thực hiện miễn phí bậc tiểu học và trung học cơ sở (chậm nhất là đến năm 2015) và trung học phổ thông (đến năm 2020). Song song với việc nâng cấp các đại học đang có, cần có ngay kế hoạch xây dựng một hoặc hai đại học chất lượng cao, trong đó nội dung giảng dạy, cơ chế quản lý, và trình độ giáo sư cũng như tiêu chuẩn đãi ngộ tương đương với các đại học tiên tiến ở châu Á. Về các đại học và trường cao đẳng ngoài công lập, cần có biện pháp chấn chỉnh giải quyết ngay những nơi không đủ chất lượng và có quy chế để ngăn ngừa hiện tượng kinh doanh giáo dục hiện nay. Ngoài ra, cần ban hành các sắc thuế khuyến khích doanh nghiệp và những cá nhân có tài sản đóng góp vô vị lợi (chủ yếu là tặng không) cho sự nghiệp giáo dục. Những vấn đề này cũng cần có kế hoạch thực hiện cụ thể trước năm 2015.
Cần tăng cường mở rộng và xây dựng thêm các trường, các khoa liên quan khoa học tự nhiên và công nghệ, xây dựng nhiều trường cao đẳng công nghệ để cung cấp đủ lao động cho công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Hiện nay, một mặt, trong nhiều ngành, sinh viên tốt nghiệp ra truờng không có việc làm, trong khi một số ngành về công nghệ tin học, điện tử, hoá học, kế toán, nông cơ, v.v. thì nguồn cung cấp thiếu hoặc không đủ chất lượng. Chính sách sắp tới cần chú trọng đầu tư xây dựng thêm các ngành ở các lĩnh vực này và cải thiện chương trình, nội dung giảng dạy để nâng cao chất lượng.
Mặt khác, nhu cầu về lao động có trình độ trung cấp và cao đẳng kỹ thuật, cao đẳng kế toán,... đang và sẽ tăng nhanh nhưng khả năng cung cấp còn rất hạn chế. Tâm lý coi thường bậc trung cấp và cao đẳng trong xã hội Việt Nam rất lớn. Cần có chính sách khuyến khích học tập trong các bậc học này, chẳng hạn tăng cường chế độ cấp học bổng và quan tâm giới thiệu việc làm cho học viên sau khi ra trường. Tóm lại, cần đổi mới thể chế giáo dục và đào tạo hiện nay mới có thể thực hiện toàn dụng lao động và đẩy mạnh công nghiệp hoá trong thập niên 2010".
Nếu nói thêm một ý kiến riêng, thì tôi cho là cần nhìn cải cách giáo dục theo quan điểm hệ thống, tức giáo dục chỉ có thể cải cách khi đồng thời cải cách những lĩnh vực khác như kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, giao thông vận tải, ... Đây cũng chính là ý tưởng xuyên suốt của "Cải cách toàn diện để phát triển đất nước". Chẳng hạn chúng ta không thể giáo dục trẻ em sống tốt đẹp, có văn hóa nếu xung quanh cha mẹ chúng và rất nhiều người lớn làm những điều sai trái. Rồi cũng theo quan điểm hệ thống, cần xem xét để thiết kế lại tổng thể nội dung giáo dục, xuyên suốt các cấp học, điều hòa tất cả các môn học để đào tạo một cách thích hợp nhất các công dân tương lai.
Chỉ dựa vào "trồng cây gì, nuôi con gì" thì không tiến nhanh được
Đẳng cấp của một quốc gia mạnh, ngoài nguồn lực con người đã được đào tạo chất lượng cao còn bao gồm cả việc sở hữu khoa học và công nghệ tiên tiến. Giáo sư có nhận xét như thế nào về tình hình khoa học và công nghệ ở Việt Nam?
Bản Ý kiến đã thảo luận và nêu một số nhận xét về tình hình khoa học và công nghệ (KH&CN) ở Việt Nam. Ở đây tôi nêu thêm một số ý kiến nữa, giới hạn trong nghiên cứu KH&CN.
- Về vai trò của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước. Từ hàng chục năm nay chúng ta đã luôn nói về vai trò then chốt của KH&CN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, nhưng theo tôi KH&CN chưa thật sự đóng được vai trò đó. Tức trong những gì ta đã làm được đến nay, phần đóng góp của KH&CN còn hết sức khiêm tốn (không kể đến việc dùng các sản phẩm KH&CN nhập khẩu).
Năm 2008, lần đầu tiên thu nhập đầu người của Việt Nam vượt qua ngưỡng 1.000 USD, thoát ra được vị trí của nước thu nhập thấp. Đây là kết quả của thời đổi mới và dựa nhiều vào việc xuất khẩu tài nguyên khoáng sản. Nhưng đổi mới chủ yếu do chúng ta tháo cởi được những ràng buộc vô lý đã có lúc tự buộc vào mình, còn tài nguyên khoáng sản thì đào mãi sẽ đến lúc hết. Chúng ta chủ yếu vẫn sản xuất hàng công nghiệp gia công, nuôi trồng thủy sản, dùng nhiều lao động giản đơn và phụ thuộc sản phẩm trung gian nhập khẩu.
Yếu tố nào giúp ta có thể thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình là câu hỏi khó nhưng ta phải trả lời. Rõ ràng nếu chỉ dựa vào "trồng cây gì, nuôi con gì" thì cả nước không bao giờ tiến nhanh được. Nhìn vào những nước đã vượt lên được như Hàn Quốc hay Singapore, có thể thấy rõ họ đã làm được vậy do nhờ phần lớn vào phát triển khoa học và công nghệ. Ta chắc chắn cũng không có cách khác, vấn đề là làm sao để KH&CN thật sự là yếu tố then chốt đưa đất nước vượt lên.
- Cần thấy "cơ cấu" KH&CN của ta đang khác nhiều so với các nước phát triển, tức ở họ lực lượng nghiên cứu và nội dung KH&CN vừa có trong giới hàn lâm (đại học và các viện nghiên cứu công) vừa có trong giới sản xuất (như viện nghiên cứu của các tập đoàn công nghiệp lớn), thì ở ta KH&CN chủ yếu mới chỉ có trong giới hàn lâm. Muốn KH&CN góp phần vào phát triển đất nước, gây dựng lực lượng và đưa nghiên cứu KH&CN vào các lĩnh vực của sản xuất là một nhiệm vụ cốt yếu.
- Lực lượng và thành quả KH&CN của ta còn rất hạn chế và khoảng cách so với KH&CN tiên tiến trên thế giới còn rất lớn. Một hiện tượng rất đáng suy nghĩ là trong hàng chục năm qua nhà nước đã đào tạo rất nhiều cán bộ KH&CN, nhưng rất ít trong số này hoạt động khoa học được thật sự, còn số đông có "cuộc đời khoa học" không mấy kết quả. Sở dĩ vậy chủ yếu vì các nhà khoa học Việt Nam chưa có được môi trường KH&CN thích hợp để làm việc và sáng tạo.
Mới đây tôi nghe một giáo sư vật lý đầu ngành (đã về hưu) kể rằng nhiều bạn bè cùng thế hệ ông khi về già cảm luôn thấy tiếc và ngậm ngùi vì đã cống hiến cả đời cho khoa học, nhưng suốt mấy chục năm không làm được gì đáng kể do không có môi trường khoa học. Môi trường này gồm ba yếu tố cơ bản: trang thiết bị làm việc đủ tốt, lương đủ sống để tập trung cho công việc, các chính sách hợp lý kích thích tinh thần sáng tạo, dấn thân vì khoa học.
Chuyện có lương đủ sống và điều kiện làm việc đã được đề cập trong Bản Ý kiến. Đáng nói là nhiều chính sách và cách quản lý KH&CN chưa hợp lý đã làm ảnh hưởng nhiều phát triển của KH&CN. Đơn cử những quy định, tiêu chuẩn hiện nay về việc phong các chức danh giáo sư, phó giáo sư của ta không đề cao nghiên cứu chất lượng cao, do vậy đã không khuyến khích nhà khoa học hướng đến những nghiên cứu quan trọng và thách thức, có giá trị khoa học cao hoặc cần cho sự phát triển, mà dễ hướng con người đến những nghiên cứu dễ làm, những nơi dễ công bố để có đủ "điểm" thỏa mãn các tiêu chuẩn phong chức danh, vốn không có ở bất kỳ nước nào khác. Đây thật sự là những điều rất bất hợp lý đã được nhiều học giả góp ý hơn hai chục năm, nhưng không được thay đổi. Và không là chuyện nhỏ vì nếu không thay đổi, nó có thể làm chúng ta không bao giờ xây dựng được một nền khoa học đích thực cần cho đất nước.
Vậy theo giáo sư, chúng ta nên ứng xử với khoa học và công nghệ thế nào để nguồn lực này góp phần đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia công nghiệp hóa, hiện đại hóa?
Thật khó nói cái chuyện lớn này trong ít dòng, tôi chỉ nêu lên hai trong số nhiều điều cốt yếu.
Thứ nhất, kinh phí cho KH&CN phải được tăng lên một cách đáng kể. Tôi nhớ trong một phỏng vấn cách đây mấy tháng Bộ trưởng KH&CN nói đại ý cần đầu tư nhiều gấp 4-5 lần so với hiện nay thì mới kỳ vọng có được các sản phẩm khoa học xứng với mong mỏi của xã hội. Trong Bản Ý kiến chúng tôi cũng chỉ rõ điều này: "Đầu tư cho nghiên cứu khoa học và công nghệ năm 2006 chẳng hạn chỉ có 428 triệu USD, chiếm khoảng 0,17% GDP. Trong cùng năm, Thái Lan đầu tư 1,79 tỉ USD (0,3% GDP) và Malaysia 1,54 tỉ (0,5% GDP). Đáng chú ý là Trung Quốc đầu tư 1,4% GDP cho khoa học và công nghệ trong năm 2010 và đặt mục tiêu đầu tư 4% GDP vào năm 2015".
Thứ hai, cùng với tăng kinh phí đầu tư, cần thay đổi cách quản lý kinh phí và đề tài KH&CN. Nói ngắn gọn, chỉ cấp kinh phí cho những tập thể có khả năng làm nghiên cứu và ứng dụng KH&CN, và yêu cầu họ làm ra sản phẩm xứng với "đồng tiền bát gạo". Chúng tôi cho rằng: "Hiện nay, các đề tài nghiên cứu cơ bản ở cấp nhà nước do các nhà khoa học xây dựng đã được quản lý khá tốt bởi Quỹ KH&CN quốc gia (Nafosted). Nhưng với các loại đề tài nghiên cứu ứng dụng và phát triển sản xuất ở các cấp - do cơ quan chủ quản ra đề tài, kêu gọi các nhà nghiên cứu nộp đơn xin và các cơ quan chủ quản xét duyệt và thẩm định - lại chưa có sự tham gia đúng mức của các nhà chuyên môn. Vì lý do này nhiều đề tài nghiên cứu của các bộ ngành, địa phương đề ra không theo kịp trào lưu và định hướng của khoa học quốc tế và nhu cầu thực tế."
Vài lời ngắn gọn và hy vọng khi có dịp sẽ thảo luận kỹ hơn.

"Nhà nước mạnh khi biết cư xử với xã hội như người lớn"

"Một nhà nước mạnh không phải là một nhà nước làm tất cả mọi việc; đó là một nhà nước biết tin, biết chia việc cho xã hội, biết cư xử với xã hội như với một người lớn." - GS Cao Huy Thuần chia sẻ suy ngẫm sâu sắc về các giải pháp vực dậy văn hóa xã hội.
LTS: Sự xuống cấp về văn hóa xã hội hiện đang là nỗi nhức nhối của toàn xã hội. Các văn kiện quan trọng của Đảng đã chỉ rõ thực trạng này. Các nhân sĩ, trí thức và đông đảo người dân cũng đã lên tiếng không ít lần chia sẻ những suy nghĩ, giải pháp để vực dậy vốn văn hóa - xã hội.
Để góp thêm một góc nhìn, Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu cuộc trò chuyện với Giáo sư Cao Huy Thuần.

"Mất văn hóa, dân tộc sẽ chỉ là những đứa con rơi"
- Được biết, trong Bản Ý kiến của một số học giả Việt Nam sống và làm việc ở nước ngoài gửi cho các vị lãnh đạo mới đây có góp bàn về việc ngăn chặn sự xuống cấp của văn hóa xã hội. Là một trong những người tham gia góp ý kiến, hẳn giáo sư có nhiều suy nghĩ về vốn văn hóa xã hội, về cái xấu cái tốt trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam?
GS Cao Huy Thuần: Trong Bản Ý kiến gồm 40 trang, bàn về nhiều lĩnh vực, văn hóa chỉ chiếm hơn nửa trang. Đâu phải tình cờ! Ít nhất vì hai lý do. Một là vì nghẹn ngào. Chung quanh chúng ta, từ gia đình, trường học, xí nghiệp, công sở, đường sá, tôn miếu, đền đài, danh lam, thắng cảnh, sông, núi... đâu đâu cũng rơi lệ trước tình trạng mà dư luận gọi chung là "xuống cấp trầm trọng". Xã hội và báo chí đã nói quá nhiều. Chúng tôi tóm gọn nửa trang là nghẹn lời. Nửa trang đó là một tiếng nấc.
Lý do thứ hai là tính bao quát của văn hóa. Văn hóa bao trùm khắp mọi lĩnh vực, ở đâu cũng có, từ khoa học, kỹ thuật cho đến nghệ thuật, văn chương, từ tinh thần cho đến vật chất, từ kinh tế cho đến chót vót chính trị trên cao. Cô không thể khoanh tròn một vùng nhất định, gọi đây là văn hóa, rồi tưởng tượng ra những biện pháp ngăn chận xuống cấp. Mọi mặt đều là văn hóa cả, cho nên biện pháp đề ra phải bao quát cả mọi mặt. Tôi xin nhắc lại sơ lược định nghĩa văn hóa của Unesco: "Văn hóa là toàn thể những nét riêng biệt, về tâm linh cũng như về vật chất, trí thức cũng như tình cảm, tạo thành đặc tính của một xã hội, bao gồm không những nghệ thuật và văn chương mà còn cả cách sống, những quyền căn bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập quán và tín ngưỡng".
Ấy là tôi chưa nói đến lĩnh vực thiết thân nhất của mọi nguời dân hiện nay ở Việt nam, chị em ruột với văn hóa, cũng đang bị "xuống cấp trầm trọng", cũng đang mang tai biến tật nguyền, cũng đang chờ thuốc thần của Hải Thượng Lãn Ông: giáo dục. Giáo dục của chúng ta đang rơi xuống vực thẳm, kéo văn hóa rơi theo. Không vớt được giáo dục, đừng hòng cứu nổi văn hóa. Do đó, bản ý kiến gộp chung văn hóa và giáo dục làm một, thử bốc vài thang thuốc Nam xem sinh khí có hồi phục được chút nào chăng.
- "Xuống cấp" có nghĩa là "mất vốn"? Mất vốn dần dần? Mất dần dần cái tốt? Nhiễm dần dần cái xấu? Do đâu mà cái xấu chiếm dần cái tốt?
Cô dùng chữ "vốn". Tôi e rằng phải dùng chữ "gia tài". Văn hóa là kết quả của hàng ngàn năm lịch sử, là gia tài sống của cả dân tộc. Mất gia tài đó thì dân tộc chỉ còn là lũ con rơi vô thừa nhận. Nhưng tôi buồn mà không bi quan. Tôi không nghĩ chúng ta mất vốn. Để tránh đi vào lý thuyết khô khan, tôi xin nhắc lại một ví dụ cụ thể, một chi tiết nhỏ nhặt mà Tuần Việt Nam đã cùng chứng kiến với chúng tôi.
Hồi tháng 5 năm ngoái, Tuần Việt Nam hợp tác với trung tâm Liễu Quán để tổ chức một Tuần lễ văn hóa ở Huế, kỷ niệm ngàn năm Thăng Long. Con đường ven theo bờ sông Hương, chạy dài trước trung tâm Liễu Quán được trang trí bằng một vườn cảnh thôn quê, với rau xanh, quả ngọt, ớt, chanh, cây chuối, cây đu đủ, bẹ cải, bắp su, hoa lá đủ màu, rực rỡ. Suốt cả một tuần, khách viếng cảnh chen vai thích cánh trên đường hoa cả chục ngàn người, ban ngày cũng như ban đêm, không một cọng hoa bị ngắt, không một trái ớt bị mất. Tại sao vậy? Tại sao hoa đào mang về từ Nhật đã bị trộm cướp dẫm nát ở chỗ khác, mà ở chỗ này trái đu đủ vẫn ung dung nặng tình với gió sông Hương? Bài học không phải là chỗ này mất vốn, chỗ kia còn vốn.
Tôi nghĩ khác và đã nói với Tuần Việt Nam: ở đâu có tính tự giác thì ở đấy có văn hóa. Mà tính tự giác thì không phải do bản năng sợ mà có. Con đường hoa ấy có ai canh gác đâu? Tính tự giác là do nếp nhà, mà nếp nhà là kết quả từ ngàn năm giáo dục, giáo dục trong gia đình, giáo dục trong trường học, giáo dục trong sách giáo khoa vỡ lòng. Ngày nay, giáo dục ấy vắng bóng trong lĩnh vực công, nhưng xã hội còn giữ. Vậy thì hãy tin ở xã hội mà nhờ. Khi nhà nước biết xã hội tự quản được và tự quản tốt, hãy giao cho xã hội tự quản. Một nhà nước mạnh không phải là một nhà nước làm tất cả mọi việc; đó là một nhà nước biết tin, biết chia việc cho xã hội, biết cư xử với xã hội như với một người lớn, không phải như với một vị thành niên.
Ấy là chuyện nhỏ về một con đường thôi, nhưng đó là văn hóa, đó là chính sách văn hóa. Văn hóa là tương quan: tương quan giữa con người với chính mình, tương quan giữa con người với người khác, tương quan giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, với môi trường sống, với đất nước, tổ quốc. Văn hóa là một tổng thể những tương quan, như mọi sông, mọi suối, mọi rạch, mọi khe đều chảy vào biển. Nhà nước không thể thống lĩnh tất cả mọi tương quan, lại càng không thể thống lĩnh mọi tương quan với còi và dùi cui.
Hãy tạo điều kiện để trả luân lý về lại cho gia đình, đạo đức về lại cho trường học, truyền thống về lại cho tổ tiên, tự giác về lại cho xã hội, như thành phố Huế đã biết trả lại con đường hoa cho Liễu Quán, cho khách nhàn du. Xã hội thừa sức làm mọi chuyện chân thiện mỹ. Chỉ cần nhà nước sáng suốt và biết khiêm tốn đóng vai hỗ trợ khi cần thiết.

Giáo sư Cao Huy Thuần. Ảnh  Khánh  Linh
- Ngạn ngữ Pháp nói: "La peur du gendarme est le début de la sagesse" (Biết sợ cảnh sát là bước đầu của khôn ngoan). Có đúng không ạ?
Đúng quá! Không có cảnh sát thì ngay xã hội cũng không còn, nói gì tự quản. Trên kia, tôi đã kể nhiều lĩnh vực thiết thân với văn hóa. Bây giờ tôi phải nhấn mạnh một lĩnh vực nữa, cũng máu mũ ruột thịt: luật pháp. Luật pháp là cây dùi cui có văn hóa. Nó gõ vào đầu cái xấu, cái ác, cái bất công, cái phi pháp, cái đáng trừng trị. Bản Ý kiến nói rõ: nó là tối thượng. Câu châm ngôn của nó là: "Cái gì mà luật không cấm thì làm được". Điều đó cũng có nghĩa là: cái gì mà luật cấm thì đừng có làm, làm thì đi nhà mát. Một nước văn minh là một nước từ trên xuống dưới gối đầu trên châm ngôn ấy mà ngủ ngon. Còn nếu châm ngôn ấy không có thì người ngủ ngon trên gối là ông ba kẹ tham nhũng.
Nói lông bông như vậy để trả lời về "cái tốt" "cái xấu" của cô. Cái xấu thì luật pháp phải trừng trị. Cái tốt thì giáo dục phải vun trồng. Bắt đầu như vậy là bước đầu trả lại nhan sắc cho bộ mặt văn hóa Việt Nam. Luật pháp nghiêm minh, giáo dục chân chính: đó là điều kiện tất yếu tối thiểu.
- Như vậy, luật pháp là phần việc của nhà nước, giáo dục là phần việc của xã hội?
Không hẳn! Không bao giờ hai xã hội ấy - xã hội chính trị và xã hội dân sự - đứng tách bạch ra hai bên, với biên giới rạch ròi ở giữa. Hai bên thông thương và hỗ trợ cho nhau. Cũng để tránh lý thuyết khô khan, tôi xin kể một điều tra khoa học được nói đến trong các sách về xã hội học cách đây khá lâu. Điều tra được tổ chức trên hai nhóm trẻ em cùng tuổi, một ở Pháp và một ở Mỹ.
Câu hỏi đặt ra là: "Nếu có một bọn côn đồ dọa đến đưổi các em, không cho đến chơi trong công viên của các em nữa, các em sẽ làm gì?" Nhóm trẻ em ở Pháp trả lời: đến tố cáo với cảnh sát và yêu cầu can thiệp. Nhóm trẻ em ở Mỹ trả lời: tự tổ chức canh gác để không cho bọn côn đồ đến chiếm. Điều tra đó được làm để xác nhận sự khác biệt giữa hai thái độ văn hóa, do lịch sử hai dân tộc tạo nên: một bên là văn hóa tập quyền, một bên là văn hóa dân chủ. Dù xã hội công dân ở Mỹ phát triển đến đâu đi nữa, trẻ em ở Mỹ cũng biết rằng nếu các em canh gác mà bọn côn đồ cứ đến chiếm như thường thì cảnh sát vẫn có đấy thôi. Nhà nước đâu có đứng khoanh tay làm ngơ!
Đồng tiền cũng biết tu chứ!
- Thưa giáo sư, sau 25 năm đổi mới và mở cửa hội nhập với thế giới, kinh tế khởi sắc hơn, sự tiếp cận của người dân đối với những cái mới cũng trở nên cởi mở hơn nhiều so với trước kia, thế mà văn hóa lại xuống cấp. Ông lý giải ra sao cho nghịch lý này?
Nếu kinh tế lên, mà tất cả cái khác đều xuống cấp, văn hóa lên cấp sao được? Nhưng để khỏi phải nói lại những điều tôi vừa nói, tôi nêu thêm ở đây một cách giải thích nữa, tất nhiên không phải là câu trả lời duy nhất. Tôi thường đọc sách Phật, thấy nói như thế này: người giàu sang quá thì khó tu, mà người nghèo khổ quá cũng vậy. Người nghèo khổ quá thì đêm ngày lo miếng cơm manh áo chưa xong, thì giờ tâm trí đâu nữa mà tu? Còn người giàu sang quá thì ham hưởng thụ, có tiền mua tiên (nữ) cũng được. Đức Phật nói thế là cốt khuyến khích nhà cầm quyền làm thế nào để nâng cao mực sống của người nghèo lên, giống như dân gian ta nói "có thực mới vực được đạo". Ngài nói thế cũng cốt khuyên nhủ người giàu đừng tham vinh hoa phú quý.
Nhưng, từ nhận xét thông thường đó, ta thấy gì trong hiện trạng Việt Nam? Kinh tế có lên, mực sống có lên, đúng thế, nhưng công bằng xã hội quá chênh lệch. Người nghèo vẫn nghèo, càng nghèo, so với người giàu càng giàu, càng giàu sụ, giàu một cách không ai hiểu nỗi. Cách làm tiền và tiêu tiền của họ phung phí, vung vãi, tựa như tiền là giấy lộn, cũng không ai hiểu nỗi. Tiền ở đâu ra, chỉ mỗi câu hỏi ấy đủ rưới ảnh hưỏng xấu tràn lan trên xã hội, bởi vì tiền kiếm được bằng mồ hôi nước mắt, bằng giá trị lao động, chẳng thấm vào đâu so với tiền bất chính. Tiền này đi đến đâu, đạo đức suy đồi đến đó, giá trị nào cũng có thể đem ra mua bán.
Chắc cô sẽ hỏi: vậy giới trung lưu, tầng lớp xã hội "dễ tu" nhất ở giữa, thì sao? Có phải tất cả giá trị văn hóa nằm ở đấy không? Thì cô thấy đó, họ chạy theo đồng lương hụt hơi, làm chơi ăn thiệt, ăn lương có khác gì ăn ảo tưởng đâu. Vậy thì thượng, hạ, trung, ba giới đều chạy theo tiền, tiền là ma lực hút hết máu mủ sinh khí của mọi giới trong xã hội, là giá trị duy nhất đặt trên đầu. Văn hóa còn là cái gì? Bởi vậy, trong bản ý kiến, đồng lương là một vấn đề hàng đầu phải giải quyết, nếu không, đừng hòng cải cách đại học, trung học, tiểu học, mẫu giáo, giáo dục, đạo đức, và tất nhiên tham nhũng.
- Đồng tiền có biết tu không?
Biết! Mà tu rất giỏi! Đắc đạo như chơi! Ở nước Mỹ, bao nhiêu nhà giàu trọng truyền thống tặng tiền cho các trường đại học để đại học Mỹ vẫn dẫn đầu văn hóa đại học trên thế giới. Gần đây, ai cũng biết, ông Bill Gates đem một phần tài sản để làm từ thiện. Nhiều người bắt chước ông. Ở Việt Nam, tôi bắt đầu có cảm tưởng các đại gia cũng muốn cho đồng tiền đi tu và tôi tán dương khuynh hướng này. Trung tâm văn hóa Liễu Quán được tái thiết là nhờ tiền hiến cúng âm thầm của một đại gia ẩn danh. Văn hóa bố thí của Phật giáo là con đường tu của đồng tiền biết sám hối. Chỉ tiếc một điều là ý nghĩa của bố thí chưa được hiểu rõ, cần phải biết rằng bố thí cho những công trình từ thiện, văn hóa, cũng phước đức như hiến tặng chùa chiền.
Càng mở cửa càng phải biết mình là ai - Thưa giáo sư, có nhiều ý kiến đã lên tiếng cảnh báo về nguy cơ mất văn hóa truyền thống, hoặc văn hóa ta bị xâm lăng, thậm chí bị nô dịch. Theo giáo sư, liệu có phải chúng ta đã quá trầm trọng hóa vấn đề?
Tôi chưa trả lời hết câu hỏi trên về sự cởi mở để tiếp thu cái mới. Bây giờ xin gộp với câu hỏi này thành một vấn đề chung. Với làn sóng toàn cầu hóa, không nền văn hóa nào có thể đóng được, kể cả Myanmar  trước đây. Dù muốn dù không, ai cũng phải mở. Vậy, ta tiếp thu cái mới gì khi mở? Cần phải phân biệt kỹ thuật với các yếu tố văn hóa khác. Kỹ thuật làm đồng bộ thế giới. Thang máy hiệu ấy ở Hà Nội cũng là thang máy ta đã bước vào ở Thái Lan, ở Phi, ở Singapore, ở Pháp. Cái máy tính tôi đang làm việc đây y chang máy của đồng nghiệp của tôi ở Mỹ. Cô nhân viên tính tiền ở các siêu thị cũng quẹt một cái trên mã vạch giống như các đồng nghiệp của cô bên Angola. Kỹ thuật là một hình thái của văn hóa, nhưng có đời sống ngắn. Có súng rồi thì chẳng ai dùng cung tên. Lái ô tô rồi thì chẳng ai du lịch bằng xe tứ mã.
Văn hóa thì ngược lại, dài dằng dặc hàng mấy nghìn năm. Kỹ thuật không cần biết phân chia đất đai, lãnh thổ, biên giới: nó nối kết nhân loại làm một. Tôi ở Pháp nấu cơm bằng nồi điện giống như gia đình tôi ở Việt Nam. Ngược lại, phong tục, tập quán, ngôn ngữ, truyền thuyết...  thì có đất đai, lãnh thổ rành rọt. Ngày rằm, mồng một, sáng sớm trên các đường lộ Sài Gòn, xe thổ mộ chở đầy hoa; đố ai tìm ra được quang cảnh đó ở Nga, ở Ý.
Nhập cái mới về kỹ thuật tuy cũng thay đổi lối sống, nhưng ta không sống với kỹ thuật. Giữa tôi và cái máy tính trước mặt, có ai gần gũi hơn, có ai gần gũi hàng ngày như vậy? Nhưng nó với tôi đâu có tình cảm gắn bó gì. Đường sắt, xa lộ nối kết các nước châu Âu giăng đầy như mạng nhện, nhưng mấy chục năm rồi, ý thức châu Âu đã có đâu? Ta không sống trong kỹ thuật. Ta sống trong ngôn ngữ. Ta sống trong văn hóa. Ta yêu tiếng "em" ngọt lịm trên môi.
Kết luận: kỹ thuật có thể kết hợp thế giới, nối vòng tay lớn với cả nhân loại, nhưng văn hóa là miếng đất tự nhiên trên đó không thể không có đối chọi. Văn hóa là đối chọi, vì đó là nơi un đúc ra bản sắc, và không thể có bản sắc nếu không có một va chạm tối thiểu với một văn hóa khác. Dù ai nói gì đi nữa, đã nói văn hóa thì bao giờ cũng có một chúng ta chống lại chúng nó, giống như thông thường người ta định nghĩa tôi bằng cách phân biệt với cái không phải là tôi.
- Ấy là chỉ mới nói đến kỹ thuật, chưa động đến những hình thức xâm nhập văn hóa mà ai cũng thấy trên màn hình, qua phim ảnh, y phục, thời trang, hoặc sách báo...
Mạnh như nước Pháp mà cũng phải nói rõ: sản phẩm văn hóa không thể được xem như các sản phẩm tiêu thụ khác, phải được bảo vệ, phải có quy chế riêng, trước sự tấn công của các văn hóa mạnh hơn. Nước nào cũng phải bảo vệ văn hóa của mình, nếu không thì truyền thống mất hết, tổ tiên chết lại lần thứ hai. Càng mở cửa càng phải biết mình là gì, mình là ai.
- Thế nhưng khi mở cửa mình cũng hấp thụ được cái tốt chứ?
Đâu có phải bây giờ ta mới mở cửa? Ngay từ khi độc lập, ta đã mở cửa rồi. Ta mở cửa từ 1945. Ta mở cửa với Tuyên ngôn Độc lập. Hoành tráng! Phải là một Hồ Chí Minh mới mở cửa xuất chúng như thế. Sang sảng, tiếng của Chủ tịch vang dội quãng trường Ba Đình : "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Ấy là tư tưởng của Jefferson, tư tưởng tiến bộ nhất của thế giới hồi đó.
Phải công bằng mà nói: ngày nay, ta cũng đã mở cửa đón hương thơm cỏ lạ của văn hóa thế giới tiến bộ đấy chứ. "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" chẳng phải toàn là những giá trị cao đẹp nhất của loài người đấy sao? Bản ý kiến tán dương tiêu chí đó, xác quyết: chừng ấy thôi mà thực hiện cho kỳ được, vậy là dân tộc ta có phước.
- Như vậy truyền thống không tương phản với hiện đại?
Hiện đại hóa truyền thống và truyền thống hóa hiện đại là thiên tài của Hồ Chí Minh. Nên học tập cái tài đó để đừng đánh mất truyền thống mà cũng đừng bảo thủ cái đáng vứt đi. Tôi trích thêm ở đây câu viết của một đại học giả Pháp, Lévi-Strauss, nhà nhân chủng học lừng danh thế giới, người cực lực bênh vực những nền văn minh mà ta gọi là sơ khai. "Văn minh bao hàm sự sống chung giữa các nền văn hóa phô bày ra với nhau đến mức tối đa những dị biệt của mình, và văn minh chính là sự sống chung ấy". Phải biết bảo vệ dị biệt - nghĩa là bản sắc - cho đến tối đa, nhưng phải biết sống chung. Như vậy thì mới không văn hóa nào đô hộ được mình.
Hãy là những Nguyễn Trãi trong văn hóa
- Nhiều người trẻ cho biết họ lúng túng khi đi tìm đức tin và lý tưởng cho mình. Giáo sư suy nghĩ thế nào về thực tế này?
Tôi mong giới trẻ hãy đọc lại Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi ở Lam Sơn. Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Nguyễn Trải ở Côn Sơn. Con người đẹp lạ lùng. Người trí thức tinh hoa của lịch sử, của văn hóa Việt Nam. Giữa một xã hội mất đạo đức, một xã hội chỉ biết có tiền, một xã hội mà kiến thức không ra ngoài ba chữ GDP, giới trẻ hãy đọc mấy câu đầu của Bình Ngô Đại Cáo để suy ngẫm: "Nước ta là một nước văn hiến". Mới đại thắng xong, Nguyễn Trãi không mở đầu bằng phô trương sức mạnh quân sự mà bằng một định nghĩa không ngờ: đặt văn hóa lên giá trị thượng đỉnh. Nấc thang cao nhất để ta đứng trên đó mà cư xử ngang nhau với phương Bắc là nấc thang văn hóa. Cũng trên nấc thang đó, Nguyễn Trải khẳng định: văn hóa của ta khác văn hóa của ngươi. Cái rốn tư tưởng của ta nằm ở bên này bờ cõi của ta:
Nước non bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Đó là tuyên ngôn độc lập văn hóa mà xin giới trẻ đừng quên. Bởi vì, chỉ mới mấy ngày nay thôi, ai đọc báo cũng biết thông tin đến từ Ủy ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ đã họp từ ngày 15 đến 18 tháng 10 và đã hạ quyết nghị biến Trung Quốc thành đại cường văn hóa. Họ nói: "Xí nghiệp kinh tế của ta đứng vào hàng 500 xí nghiệp đầu sổ của thế giới, nhưng ta không có một xí nghiệp văn hóa nào được thế giới biết đến. Người Mỹ chiếm thị trường của ta với những phim lấy hứng từ lịch sử Trung Quốc, nhưng Trung Quốc là đứng vào hàng số không về tính sáng tạo. Lợi tức của 500 xí nghiệp xuất bản Trung Quốc thấp hơn lợi tức của một nhà xuất bản Đức duy nhất".
Trung Quốc đã có Viện Khổng Tử ở khắp nơi. Họ vung tiền ra để đưa tin trên thế giới. Sản phẩm văn hóa của họ tràn ngập các nước chung quanh. Thế vẫn chưa đủ. Bởi vì họ biết: văn hóa là sức mạnh mềm vô cùng hữu hiệu.
Hãy là Nguyễn Trãi, các bạn trẻ của tôi!

Hướng nào cho tái cấu trúc?

Có một vấn đề rất quan trọng nhưng không giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà liên quan đến mọi mặt của xã hội. Đó là chúng ta cần một chính phủ mạnh và hiệu quả ở cả trung ương và địa phương. Một chính phủ mạnh và hiệu quả là điều kiện tối cần thiết để kinh tế phát triển nhanh và có chất lượng cao. Để củng cố bộ máy nhà nước, cần cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức. Đây là vấn đề cốt lõi của nhiều vấn đề.
Lời toà soạn: Thưa quí vị độc giả Tuần Việt Nam, dòng thời sự chủ lưu hiện nay đang tập trung vào câu chuyện tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng.
Thực tiễn phát triển đất nước hơn hai chục năm qua đã cho thấy, nếu đứng trước một bước ngoặt mới, nếu chúng ta không tiếp tục đổi mới mạnh mẽ thì không thể đưa đất nước bật lên được.
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ III vừa qua khẳng định: "Một nội dung mới rất quan trọng được hội nghị trung ương lần này xem xét và quyết định là phải tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng".
Giới nghiên cứu, các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước cũng đã có những phân tích về vấn đề này. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam trò chuyện với GS. Trần Văn Thọ (Đại học Wesada, Nhật Bản), tác giả của nhiều bài nghiên cứu, phân tích chất lượng về kinh tế Việt Nam, và là đồng tác giả Bản ý kiến của nhóm trí thức ở nước ngoài về việc đẩy mạnh cải cách để đất nước phát triển nhanh và bền vững.
Tái cấu trúc theo hướng nào?
- Thưa giáo sư, các nhà quản lý và giới nghiên cứu trong nước gần đây bàn tán sôi nổi về vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Hội nghị Trung ương vừa qua  nhấn mạnh nhiều lần điểm này. Xin hỏi nhận định của ông về cơ cấu kinh tế hiện nay?
GS Trần Văn Thọ: Còn quá sớm để nhận định nhưng chúng tôi cho rằng Hội nghị Trung ương vừa rồi đã phát đi một số tín hiệu tích cực, cho thấy bước đầu có nhận thức chung trong giới lãnh đạo về nhu cấu cấp thiết phải cải cách toàn diện để đất nước tiếp tục phát triển.
Đó cũng là nội dung của bản ý kiến mà một số anh em trí thức đang sống và làm việc ở nước ngoài, trong đó có tôi, mới đây đã gửi tới các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước và đã nhận được những phản hồi tích cực.
Một trong những điểm nổi bật nhất là trong khi kinh tế Việt Nam hội nhập rất sâu vào nền kinh tế thế giới, nhất là hội nhập mạnh vào khu vực Đông Á là nơi đang diễn ra cạnh tranh gay gắt, nhưng sức cạnh tranh của nền kinh tế rất yếu. Điều này phản ánh trong cơ cấu xuất nhập khẩu, trong cán cân ngoại thương ngày càng nhập siêu lớn.
Trong thời đại toàn cầu hóa và khu vực hóa, Việt Nam đã đi theo hướng hầu như mở toang cửa nền kinh tế mà không kèm theo việc thiết lập một hệ thống pháp lý cần thiết nhằm giám sát các mặt trái của nền kinh tế thị trường, và không khẩn trương phát triển sâu và rộng các ngành công nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới.
Mặt khác, cơ chế và chính sách của Việt Nam cho đến nay đã gây nên những lãng phí về nguồn lực và làm nền kinh tế kém hiệu suất, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư công, trong việc ưu đãi các tập đoàn kinh tế trong khi các tập đoàn này hầu như không cạnh tranh được trên thị trường thế giới.
Một hậu quả khác của chính sách và cơ chế hiện nay là các doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn về huy động vốn, đời sống của người lao động cũng khó khăn, và xã hội không tạo đủ công ăn việc làm khiến nhiều người phải ra nước ngoài tìm việc một cách miễn cưỡng.

Giáo sư Trần Văn Thọ trong một cuộc trực tuyến với
nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển trên VietNamNet
Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn của ta hiện nay cũng có nhiều bất cập làm cho đời sống nông dân chậm cải thiện và làm cho cả nền kinh tế phát triển thiếu cân đối. Đặc biệt chính sách phân quyền xuống địa phương đã không phát huy được sức sáng tạo và cạnh tranh để phát triển mà ngược lại, mở cửa cho nhiều người có chức có quyền ở địa phương lợi dụng cơ hội đào khoét tài nguyên đất nước để làm giàu cá nhân, kể cả việc giao đất và tài nguyên cho nước ngoài khai thác ở những nơi trọng yếu về an ninh và quốc phòng.
Luật Đất đai coi đất đai là sở hữu công, do đó dành cho chính quyền quyền thu hồi đất của bất cứ ai. Luật lại giao quyền này cho Ủy ban Nhân dân ở mọi cấp, xuống tận cấp quận, huyện, với giá do chính Ủy ban Nhân dân quyết định. Đây chính là lý do nhiều đất đai mầu mỡ của nhân dân bị thu hồi để làm khu phát triển công nghiệp, sân golf, hay xây nhà kinh doanh mà hầu hết các lĩnh vực này đều không mang lại hiệu quả. Hạ tầng nông thôn và thị trường lao động chậm cải thiện cũng cản trở việc công nghiệp hóa nông thôn và dịch chuyển lao động sang các lĩnh vực phi nông nghiệp.
Vậy theo ông, đâu là phương hướng, chiến lược cần có? Chính sách tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng phải như thế nào?
Đây là vấn đề khá rộng và lớn, ở đây chỉ xin nói đến mấy điểm chúng tôi cho là quan trọng nhất.
Nguồn lực lớn nhất của Việt Nam là con người. Chiến lược phát triển phải vì cuộc sống của đại đa số dân chúng và chủ yếu dựa vào nguồn nhân lực ngày càng có kỹ năng cao qua giáo dục và đào tạo, qua khả năng làm chủ công nghệ.
Hiện nay xuất khẩu lao động và phụ nữ muốn ra nước ngoài lập gia đình vì lý do kinh tế đang là hiện tượng làm bức xúc người dân và ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên thế giới. Chúng tôi đề nghị nhà nước đưa ra mục tiêu đến năm 2020 phải thực hiện toàn dụng lao động, không còn ai phải miễn cưỡng ra nước ngoài chỉ vì sinh kế.
Để phát triển bền vững và hướng tới toàn dụng lao động cần đẩy mạnh công nghiệp hóa theo hướng ngày càng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và chú trọng phát triển nông thôn. Việc xây dựng kết cấu hạ tầng phải theo hướng ấy.
Chúng tôi đề nghị hoãn kế hoạch xây dựng đường sắt cao tốc vì chưa cần thiết, tốn kém lớn và đã được chứng minh bằng các phân tích khoa học là không có hiệu quả. Thay vào đó, cần tu bổ nâng cấp đường sắt Thống Nhất, mở rộng mạng lưới đường sắt phổ thông đến vùng đồng bằng sông Cửu Long và các tỉnh miền Bắc, đồng thời xây dựng đường bộ cao tốc Bắc Nam và xây dựng các tỉnh lộ, huyện lộ nối nông thôn với đường sắt và đường cao tốc này, nhất là nối nông thôn với các đô thị gần đường cao tốc. Kết cấu hạ tầng như vậy mới thúc đẩy công nghiệp hóa nông thôn.
Liên quan đến phát triển nông thôn, việc cải cách chế độ hạn điền cần được đẩy mạnh. Chế độ hộ khẩu đã được cải thiện nhiều nhưng mỗi đô thị lại có các quy chế riêng, cần cải cách theo hướng tự do hóa việc thay đổi chỗ ở hơn nữa để người dân khi đến đô thị làm việc có thể yên tâm với cuộc sống ở đó và không cần giữ lại quyền sử dụng đất ở nông thôn.
Với sự phân tán, manh mún của ruộng đất hiện nay, việc tăng năng suất nông nghiệp gặp khó khăn. Tăng năng suất nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn là hai trụ cột để nâng cao mức sống của người dân ở nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế nói chung.
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, thị trường lao động hiện nay có vấn đề không ăn khớp giữa cung và cầu: Ở các khu công nghiệp tại các thành phố lớn bắt đầu có hiện tượng thiếu lao động, doanh nghiệp khó tuyển dụng số lao động cần thiết, mặc dù ở nông thôn vẫn còn lao động dư thừa. Nguyên nhân là do thị trường lao động chưa phát triển, cung và cầu không gặp nhau.
Một nguyên nhân nữa là chất lượng lao động (trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, khả năng tiếp thu tri thức về hoạt động của doanh nghiệp,...) không đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Biện pháp để cung cấp lao động một cách ổn định phải bao gồm chính sách ngắn hạn (phát triển thị trường lao động) và chính sách trung dài hạn (nâng cao chất lượng lao động, tăng cường giáo dục nghề nghiệp). Chính quyền địa phương ở nông thôn cần tích cực hơn nữa trong lĩnh vực này.
Một vấn đề khác là cải cách doanh nghiệp quốc doanh trong đó có các tập đoàn. Cần đặt các doanh nghiệp đó trong khung cảnh chung của luật pháp, xóa bỏ việc để hành pháp trực tiếp lãnh đạo kinh doanh nhằm hạn chế sự thao túng của các nhóm lợi ích.
Doanh nghiệp quốc doanh dùng tiền của dân và nhằm phục vụ dân, do đó phải có tiếng nói của đại diện nhân dân. Hội đồng quản trị có đại diện của dân do các tổ chức hội chuyên nghiệp và Mặt trận Tổ quốc đề cử, có đại diện của người tiêu dùng chính do các ngành sử dụng đề cử, có các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực hoạt động doanh nghiệp do các hội chuyên gia đề cử.
Để cho doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả và thực sự phục vụ nhân dân thì phải có các tổ chức chỉ đạo, kiểm tra nghiêm túc. Đặc biệt, phải công khai, minh bạch trong việc cấp vốn, việc cấp và sử dụng các nguồn lực quốc gia cho các doanh nghiệp nhà nước.
Ngoài những trường hợp đặc biệt ưu tiên cho doanh nghiệp nhà nước đã được công khai, minh bạch, chính sách cần bảo đảm công bằng cơ hội, bảo đảm hiệu quả sử dụng và không phân biệt giữa các thành phần kinh tế, không phân biệt giữa các công ty, kiểm soát và hạn chế việc sử dụng lãng phí các nguồn lực quốc gia.
Trong cơ chế thị trường, những chính sách vừa nói được thực thi triệt để thì nền kinh tế sẽ tự cái cấu trúc theo hướng hiệu suất và phát triển bền vững.
Việt Nam hiện nay cũng có những cơ quan như Bộ Kế hoạch và Đầu tư hay Bộ Công thương nhưng quyền hạn liên quan tới vấn đề này bị phân tán, ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ với cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước, vì vậy thường khó có thể đề xuất được những chính sách hiệu quả, hoặc do phải cân nhắc lợi ích của quá nhiều đối tượng nên những nội dung thống nhất được cũng mang tính thỏa hiệp, chung chung.
Để giải quyết tình trạng này, chúng tôi đề nghị nhà nước cần tập trung những chuyên gia có trình độ, thành lập một bộ phận chuyên trách để xây dựng và giám sát việc thi hành chiến lược phát triển với đủ thẩm quyền và chế độ đãi ngộ thích hợp. Bộ phận này phải được đặt trên tất cả các bộ ngành liên quan tới lĩnh vực kinh tế, đứng đầu là Thủ tướng hoặc Phó thủ tướng thường trực, có những chuyên viên tài năng, có cơ chế tiếp thu ý kiến của giới doanh nhân và trí thức.
Cải cách tiền lương và thi tuyển quan chức
Trong lĩnh vực kinh tế, ngoài vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế, còn điểm gì khác mà ông thấy quan trọng?
Có một vấn đề rất quan trọng nhưng không giới hạn trong lĩnh vực kinh tế mà liên quan đến mọi mặt của xã hội. Đó là chúng ta cần một chính phủ mạnh và hiệu quả ở cả trung ương và địa phương. Một chính phủ mạnh và hiệu quả là điều kiện tối cần thiết để kinh tế phát triển nhanh và có chất lượng cao. Để củng cố bộ máy nhà nước, cần cải cách chế độ tiền lương và thực hiện việc thi tuyển quan chức. Đây là vấn đề cốt lõi của nhiều vấn đề.
Cải cách chế độ tiền lương là một việc tuy khó nhưng cấp bách và không thể trì hoãn, vì nếu không sẽ không thể giải quyết được vấn đề nào khác. Thiết nghĩ, đây là vấn đề nan giải nhưng không hẳn là không có giải pháp nếu nhà nước thực lòng quyết tâm. Trước mắt, chúng tôi đề khởi một số nội dung cải cách như sau:
Thứ nhất, hiện tượng phổ biến hiện nay là tiền lương chỉ chiếm một phần nhỏ trong thu nhập của quan chức, công chức, thầy giáo, v.v.. Do đó, trước tiên phải minh bạch hóa các nguồn thu nhập này và lần lượt đưa vào lương.
Thứ hai, cải cách thuế để tăng thu ngân sách. Đặc biệt cần đánh thuế lưu thông bất động sản, đánh thuế suất cao đối với những người sở hữu nhiều bất động sản, và đánh thuế thừa kế tài sản.
Thứ ba, tăng tỉ lệ tiền lương trong tổng thu ngân sách. Trước mắt giảm tỉ lệ đầu tư công lấy từ ngân sách, hoãn những dự án đầu tư lớn cần nhiều vốn nhưng chưa thật cần thiết..
Thứ tư, tinh giảm bộ máy công quyền ở trung ương và địa phương.
Nhà nước cần lập ngay một ban chuyên trách về cải cách tiền lương gồm các chuyên gia kinh tế, tài chính, hành chính. Ban chuyên trách này sẽ khẩn trương nghiên cứu, xem xét 4 nội dung cải cách nói trên, để trong thời gian ngắn đưa ra đề án cải cách khả thi.
Quan chức, công chức phải là những người được tuyển chọn nghiêm túc qua các kỳ thi định kỳ và cuộc sống của họ và gia đình họ phải được bảo đảm bằng tiền lương. Tiền lương cũng phải đủ sức hấp dẫn người có năng lực vào bộ máy công quyền.
Nội dung các kỳ thi tuyển cho quan chức cấp trung trở xuống cũng cần chú trọng trình độ văn hóa và sự hiểu biết về luật pháp và cơ cấu hành chánh. Quan chức cấp trung ương, cũng với nội dung ấy nhưng ở trình độ cao cấp hơn và thêm các chuyên môn cần thiết. Trình độ văn hóa và sự khó khăn phải vượt qua các cửa thi tuyển sẽ nâng cao khí khái và lòng tự trọng của quan chức, tránh hoặc giảm được tệ nạn tham nhũng.
Việc thi tuyển quan chức còn có tác dụng tạo niềm tin và động lực học tập trong giới trẻ vì ai cũng có cơ hội bình đẳng thi thố tài năng cho việc nước. Chế độ tiền lương và việc thi tuyển quan chức cần được thực hiện trong vòng 3-4 năm tới.

Nặng tư duy nhiệm kỳ, đua nhau ‘chạy’ dự án

 Mỗi lãnh đạo tỉnh khi mới lên chức đều phải cố gắng để lại dấu ấn nào đó trong nhiệm kỳ của mình mà thành tích lại tính theo tăng trưởng GDP nên ai cũng phải cố "xin" làm một dự án gì đó hoành tráng. – Nguyên Phó TT Vũ Khoan nhấn mạnh.

Bên lề hội thảo về tái cơ cấu đầu tư công do Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và đầu tư tổ chức vừa qua, nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan đã chia sẻ với Diễn đàn kinh tế Việt Nam, báo VietNamNet về câu chuyện này.
Tư duy nhiệm kỳ là triệu chứng của cơ chế
- Thưa ông, nhiều chuyên gia đã phê bình rằng, nguyên nhân gốc rễ của những yếu kém trong đầu tư công hiện nay là căn bệnh tư duy nhiệm kỳ. Ông nhìn nhận thế nào về điều này?
Ông Vũ Khoan: Tôi cho rằng, đây cũng là một hiện tượng xã hội hết sức bình thường, nhưng vì sao, giờ trong điều hành kinh tế xã hội hiện nay, lại vẫn "đẻ" ra cái này thì chúng ta phải xét tới gốc rễ. Gốc rễ có vấn đề mà chúng ta không phá bỏ thì không được.
Thứ nhất, sự phát triển kinh tế xã hội hiện nay thực chất vẫn dựa trên cơ chế bao cấp, tập trung hóa, mà biển hiệu là cơ chế xin- cho. Chuyện đầu tư công không hiệu quả ở ta đã kéo dài suốt từ trong quá khứ cho đến nay. Vì trong gen của chúng ta chưa thoát được cơ chế quan liêu, làm kế hoạch hóa đó nên hành vi vẫn chứa đựng tính cách này, vẫn phân bổ ngân sách, phân bổ chiếc bánh theo kiểu anh xin tôi cho, trung ương phân cấp cho địa phương...
Thứ hai là quy hoạch kinh tế xã hội hiện vẫn chia cắt và thực hiện lẫn lộn giữa địa giới hành chính và không gian kinh tế. Mỗi tỉnh là một nền kinh tế hoàn chỉnh với đầy đủ cơ cấu ngành, lĩnh vực...
Cơ chế với 2 nhánh gốc rễ như vậy đã "đẻ" ra tư duy nhiệm kỳ, địa phương chủ nghĩa. Nói cách khác, tư duy nhiệm kỳ chỉ là hiện tượng bên ngoài, là triệu chứng của cơ chế thôi. Nếu không triệt tiêu cái nguồn gốc sinh ra tư duy như vậy mà cứ giải quyết cái phần ngọn thì chúng ta sẽ chẳng thay đổi được gì.
- Ông thẳng thắn nhìn nhận, căn bệnh tư duy nhiệm kỳ hiện nay đang hoành hành như thế nào?
Ông Vũ Khoan: Tập trung hóa, quan liêu bao cấp vẫn còn hiện diện. Mỗi nhà lãnh đạo tỉnh khi mới lên chức đều phải cố gắng để lại dấu ấn nào đó trong nhiệm kỳ của mình. Thế nên, chẳng tội gì các vị ấy không đi xin cái gì đó để có được dấu ấn. Thành tích, vị trí của địa phương lại tính theo tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm nên địa phương phải làm gì đó để GDP của mình hoành tráng chứ!

Việt Nam có tới hơn 100 cảng biển, nhưng phần nhiều trong số đó hoạt động không hiệu quả. Đó là hệ quả của đầu tư công tràn lan dẫn tới cuộc chạy đua cảng biển. Ảnh minh họa
Rõ ràng là, trong nhiệm kỳ của mình, các nhà lãnh đạo tỉnh, thành phố đều phải thực hiện được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội đặt ra, nếu thực hiện thắng lợi những mục tiêu đó thì các vị ở lại, còn không làm được thì e là bị mời nhường ghế cho người khác.
Họ sẽ cố để thực hiện dự án trong thời gian nhiệm kỳ mình để đạt được lợi ích của họ. Vậy nên suy cho cùng, tư duy nhiệm kỳ và lợi ích nhóm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có mục đích là làm lợi cho nhóm cá nhân nào đó.
Tư duy như vậy nên các địa phương mới có chuyện "chạy" dự án. Chính cơ chế đã đẻ ra bệnh này.
GDP là định hướng chứ không phải pháp lệnh
- Có ý kiến cho rằng, nên chăng trong các kế hoạch kinh tế xã hội, Chính phủ nên bỏ chỉ tiêu tăng trưởng GDP để bớt động lực sản sinh tư duy nhiệm kỳ? Nhiều nước không dựa vào chỉ tiêu này như một thành tích phát triển.
Ông Vũ Khoan: Đặt ra mục tiêu GDP thì nước nào cũng có cả, chỉ có họ khác mình ở chỗ, chỉ số GDP chỉ là định hướng chứ không phải là pháp lệnh. Ở Việt Nam, khi Quốc hội đưa chỉ tiêu này vào Nghị quyết, nghĩa là Pháp lệnh rồi. Trong khi các nước khác, Quốc hội chỉ thông qua các cân đối ngân sách chứ không thông qua chỉ tiêu GDP phải là bao nhiêu %, lạm phát phải bao nhiêu.
Vì người ta quan niệm, đánh giá GDP của địa phương tăng lên bao nhiêu là do doanh nghiệp làm, Nhà nước không đánh giá vai vế của địa phương về chuyện đó, mà đánh giá an sinh xã hội ra sao, đánh giá việc quản lý hành chính, chính trị như thế nào. Vì lẽ đó, các nhà lãnh đạo địa phương không phải chạy theo nhiệm kỳ như ở ta.
Cái gốc của một quốc gia phát triển hưng thịnh chính là cân đối vĩ mô đảm bảo, ổn định. Nếu Quốc hội thông qua các cân đối vĩ mô này thì lạm phát không thể tăng vọt.
- Thưa ông, ngay cả bây giờ, kỳ họp Quốc hội  thảo luận về kế hoạch kinh tế xã hội năm 2012 rồi kế hoạch giai đoạn 5 năm vẫn theo cách cũ, với các mục tiêu GDP, CPI, phân bổ ngân sách... Làm sao chúng ta thay đổi được tư duy nhiệm kỳ đã tồn tại trong gen chúng ta từ nhiều năm nay?
Ông Vũ Khoan: Đúng là, trong bối cảnh đã chuyển sang kinh tế thị trường rồi nhưng cách làm kế hoạch kinh tế xã hội hiện nay của chúng ta vẫn thể hiện là hành động kiểu tập trung bao cấp, kể từ việc xây dựng kế hoạch cho tới khi thông qua kế hoạch. Lời nói và hành động không đi đôi với nhau.
Tuy nhiên, chúng ta không thể mong nói thay đổi tư duy nhiệm kỳ hôm trước mà hôm sau làm ngay được. Thay đổi nếp nghĩ, nếp tư duy đã hình thành tồn tại  lâu là rất khó. Bản thân kế hoạch 5 năm đã thế rồi thì "cựa" đi đâu nữa? Cho nên, ta phải dần dần có thời gian để làm việc này và phải có quyết tâm rất cao mới có thể làm được.
Trong đó, điều cơ bản hiện giờ là chúng ta cần triệt hẳn cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liệu bao cấp đi. Chúng ta phải thay đổi tư duy, đơn cử như việc doanh nghiệp Nhà nước phải đặt trong thế bình đẳng với tất cả doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào phải làm nhiệm vụ chính trị thì Nhà nước hãy đặt hàng riêng, thanh toán riêng. Doanh nghiệp Nhà nước không có tội nhưng do cơ chế nên bị biến thành như vậy. Họ lẫn lộn giữa nhiệm vụ chính trị và kinh tế, giờ chúng ta phải tách bạch hai vấn đề này ra.
Nói dễ nhưng làm không dễ đâu vì thay đổi mạnh sẽ khiến thay đổi lại hết mọi cân đối, tính toán. Nên bàn về tái cơ cấu đầu tư công vẫn phải trở lại câu hỏi muôn thuở: bắt đầu từ đâu? Lộ trình thế nào? Chứ nếu thay đổi liên tục thì rất khó, không thể nào làm được.

Những hòn đảo có hình dạng kì lạ nhất

Một chú cá heo ngỗ nghịch hay một bộ phận của cơ thể người... đó là một trong số những hình thù đảo kì quái trên trái đất.
Mỗi quần đảo đều có nét xinh đẹp, quyến rũ riêng khi nhìn từ mặt đất. Nhưng khi nhìn từ trên cao, bạn có thể mặc sức tưởng tượng ra hình dạng của quần đảo. Trải rộng qua các đại đương, hải đảo có thể vẽ nên một bức tranh kì lạ.
Dưới đây là 13 hòn đảo có hình dạng độc đáo.
1. Cá heo


Rạn san hô này nằm ngoài khơi bờ biển phía bắc của đảo Flores thuộc Indonesia. Hình dạng của chúng trông giống dáng dấp của con cá heo đang bơi về phía trước.
2. Biểu tượng mặt cười


Những hòn đảo Manukan, Mamutik và Sulug ở Malaysia nhóm lại với nhau tạo thành một hình đặc biệt. Trên chuyến bay ngang qua những hòn đảo này, nếu may mắn, du khách sẽ nhìn thấy hình mặt cười dễ thương.
3. Đồ chơi Boomerang


Một chiếc boomerang nằm ngay giữa biển Đông.
Trên chuyến bay từ Manila đến Kuala Lumpur, bạn có thể nhìn thấy hòn đảo này trong hình dạng của một cái boomerang một cách rõ ràng nhất. Đây là hòn đảo san hô, là một phần của quần đảo Trường Sa, gồm có hơn 750 đảo nhỏ với các rạn san hô, đảo thấp nhỏ, hải đảo. Tùy thuộc vào mùa và dòng chảy hiện tại mà bạn có thể tìm thấy hòn đảo mang các hình dạng khác nhau.
4. Hải ma ngư


Hình ảnh này được thực hiện bởi công cụ ảnh viễn thám MODIS chụp từ vệ tinh Aqua của NASA vào năm 2002. Hòn đảo lớn nhất của quần đảo Galapagos, đảo Isabela trông giống như một con cá ngựa. Hòn đảo này được hình thành từ sự phun trào núi lửa xảy ra cách đây hàng triệu năm. Nếu nhìn kỹ, bạn có thể thấy ba miệng của núi lửa tạo ra các hòn đảo ngày nay.
5. Con mắt


Một con mắt đáng kinh ngạc với võng mạc và mống mắt hoàn chỉnh có thể được tìm thấy ở quốc đảo Maldives. Trên thực tế, con mắt này là một rặng san hô nhưng trông giống như một hòn đảo hơn. Người ta còn xem rặng san hô này như một con sứa khổng lồ.
6. Nhân vật hoạt hình


Theo mô tả của Cục quản lí hàng không và không gian quốc gia Hoa Kỳ (NASA) thì hòn đảo này trông giống như một như một viên đá quý màu xanh lá cây lóng lánh đang ra sức chống lại sự tác động của vùng nước màu xanh ngọc bích ở biển Ấn Độ Dương. Bạn có thể mường tượng ra phần đầu, mắt và miệng mở lớn của một nhân vật trong bộ phim hoạt hình nào đó mà ta từng xem.
7. Con cá đuối


Hòn đảo này nằm trong vùng biển Kattegat của Đan Mạch, chỉ cần ra khỏi bờ biển phía bắc của Funen - hòn đảo lớn thứ ba của Đan Mạch - thì bạn có thể trông thấy nó một cách rõ ràng. Với hình dạng tam giác và cái "đuôi" dài, trông nó giống như một con cá đuối gai độc thật sự.
8. Lá phổi


Lá phổi xuất hiện hoàn chỉnh với một khí quản và phế quản. Trong khi đó các phế quản được bao bọc bởi các thảm thực vật tươi tốt, biến hòn đảo thành một "Lá phổi xanh ". Hòn đảo được thiết kế theo ý định của chủ sở hữu, với biệt thự sang trọng, hồ bơi và sân tennis. Đây là một hòn đảo nhỏ trong quần đảo san hô Florida Keys ở phía đông nam Hoa Kỳ.
9. Chiếc mặt nạ Venetian


Huvahendhoo là một trong những hòn đảo thuộc quốc đảo Maldives. Khi nhìn hòn đảo nhỏ này khiến ta liên tưởng đến chiếc mặt nạ Venetian trong lễ hội hóa trang nổi tiếng của Ý, với các món đồ trang trí khác nhau quanh mắt làm nổi bật lên chiếc mặt nạ.
Maldives thực sự là một kho báu khi nói đến việc tìm kiếm các hòn đảo mang các hình dạng và kích cỡ khác nhau. Có tổng cộng 1.190 hòn đảo san hô nhỏ được nhóm lại thành một chuỗi kép 26 đảo san hô vòng lớn. Có thể nói quốc đảo Maldives có muôn vàn sự lựa chọn cho du khách viếng thăm.
Quốc đảo Maldives được trải rộng trên khoảng 90.000 km2. Tuy nhiên một điều đáng buồn là hải đảo của Meldives có nguy cơ biến mất rất cao, do Maldives là quốc gia thấp nhất trên trái đất (mặt đất trung bình chỉ có 1,5 m) cộng với sự biến đổi khí hậu. Sự nóng lên toàn cầu và mực nước biển dâng cao khiến cho một số hải đảo đang chìm từ từ trong nước.
10. Củ cà rốt


Bức ảnh này được nhiếp ảnh gia Badruddeen chụp khi cất cánh từ sân bay quốc tế Nam Maldives. Với hình dạng hơi dài ở phần thân và phần đầu dày nên trông nó giống như một củ cà rốt hoàn hảo.
11. Hình cây


Nằm ở ngoài khơi bờ biển Cornwal ở tây nam Anh quốc, quần đảo Scilly quần tụ rất nhiều đảo nhỏ trông giống như một cây cổ thụ. Một thân cây đầy đủ thân, cành, lá và thậm chí cả bộ rễ cắm sâu vào đất.
12. Tinh trùng


Có thể nói đây là liên tưởng thú vị nhất, hòn đảo như một một tế bào tinh trùng đơn độc bơi trong vùng biển một màu xanh ngắt. Trên thực tế, hòn đảo này có thể rộng hơn và hình dạng khác, nhưng qua góc chụp này, nhiếp ảnh gia đã tạo được bất ngờ và bức ảnh được giới nghệ thuật đánh giá cao.
13. Trái tim



Hòn đảo này có tên là Galešnjak mang hình dạng trái tim tự nhiên, người ta còn gọi hòn đảo này với một cái tên thân thương khác nữa là hòn đảo tình yêu. Chỉ cần ra khỏi bờ biển Croatica là có thể trông thấy nó. Đây là một hòn đảo thuộc quyền sở hữu của tư nhân nằm ở vùng biển Adriatic gần thị trấn Turanj. Hòn đảo này có diện tích bề mặt 0,132 km2 với chiều dài bãi biển 1,55 km.
Hòn đảo có hai đỉnh, đỉnh cao nhất là 36m trên mực nước biển, là hòn đảo có thực vật phong phú. Trong những năm đầu thế kỉ 19, hình dạng bất thường của hòn đảo lần đầu tiên được ghi lại trong tập bản đồ Charles - François Beautemps - Beaupré của hoàng đế Napoléon. Ngày nay tập bản đồ này vẫn còn lưu giữ trong thư viện đại quốc gia Zagreb (Croatica). Hòn đảo này gây sự chú ý trên toàn thế giới khi nó được công khai trên Google Earth vào năm 2009.

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2011

Nhân tính (tt) - Bệnh vô cảm

'Bệnh vô cảm xuất phát từ khủng hoảng niềm tin cuộc sống'

Cướp lộng hành giữa phố, kẻ nghĩa hiệp ra tay giúp nạn nhân lại bị đâm chết, nhiều người sợ hãi đến vô cảm. Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh nhìn nhận "dường như đang có một cuộc khủng hoảng niềm tin trong xã hội hiện đại".

So sánh sự giống và khác nhau của xã hội Việt Nam xưa và nay, bà Minh (giảng viên Học viện hành chính TP HCM) cho rằng, thời nào cũng có sự hiện diện của cái thiện và cái ác, người tốt và kẻ xấu. Tuy nhiên nó khác nhau về mức độ và sự thể hiện ở từng thời điểm.
Trước đây con người sống trong môi trường làng xã nên mối quan hệ chặt chẽ hơn, hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau. Vì thế mỗi khi xảy ra chuyện gì thì mọi người xung quanh xúm vào giúp đỡ. Chính sự đoàn kết này một phần giúp con người có thêm sức mạnh để khống chế và xua đuổi kẻ ác, một phần khiến kẻ xấu sợ hãi không dám ra tay.
Còn ngày nay khi tốc độ đô thị hóa ngày một nhanh, lối sống theo kiểu "đèn nhà ai nấy sáng", hàng xóm sát vách cũng không biết mặt nhau; đi cùng với nó là sự phân hóa giàu nghèo, sự lên ngôi của chủ nghĩa vật chất, tính vị kỷ, khiến mọi người chỉ chăm chăm lo cho hạnh phúc của bản thân hoặc gia đình mình.
Vì thế đến khi có kẻ gặp nạn, người ta do vô tình không để ý hoặc cố tình thờ ơ cho rằng đó không phải là việc của mình. Và ngược lại đến khi bản thân họ gặp chuyện cũng chẳng có ai giúp. Đó là hệ lụy tất yếu về mặt tâm lý - theo phân tích của Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh.
Đô thị đất chật người đông "Thạch Sanh thì ít Lý Thông thì nhiều", trong khi lực lượng an ninh không đủ để có mặt kịp thời khi xảy ra sự cố. Ảnh: Thi Ngoan
Thêm vào đó, trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, kẻ xấu ngày càng hung hãn và ngang ngược vì có trong tay vũ khí, khiến mọi người (cả nạn nhân và người ra tay giúp đỡ) không thể lường trước hậu họa. Trước tình cảnh đó, con người cá nhân thời nay rơi vào trạng thái co cụm và lo sợ.
"Đó là chưa kể xã hội bây giờ quá phức tạp, lừa phỉnh rất nhiều, do đó mọi người chọn cách phòng thủ, tốt nhất là không dây dưa vào chuyện người khác để khỏi chuốc họa vào thân. Đơn giản, đó là sự phòng vệ", bà Minh nói.
Xét về yếu tố tâm lý xã hội, bà Minh cho rằng đang có sự thay đổi lớn trong hệ thống giá trị sống của con người qua các thời đại. Ngày xưa con người sống trọng "nghĩa" hơn, tức là luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, sự hy sinh, sẵn sàng xả thân vì cái thiện dù đó là việc của gia đình, đồng loại hay của đất nước. Vì thế mà ở thời ông cha ta những giá trị cốt lõi của tình nghĩa gia đình, thầy trò, tình yêu quê hương đất nước luôn được đặt lên cái tôi cá nhân.
Trong khi đó con người ngày nay trọng "tình" hơn, tức là thiên về mặt cảm xúc cảm tính và bản năng nhiều hơn. Theo bà Minh, không thể phủ nhận tầm quan trọng của tình yêu trong đời sống, song do nó thiên về cảm xúc nên có mặt tiêu cực là sự mù quáng, bởi người ta chỉ dành sự ưu ái cho người mình yêu thương như trong câu "thương nhau củ ấu cũng tròn". Chính sự thế mà con người hiện đại chỉ quan tâm đến người "của mình" và cho phép bản thân bỏ qua các mối quan hệ "ngoài luồng".
"Cái 'tình' vẫn mong manh dễ vỡ. Vì thế khi mà tình yêu tan vỡ thì con người hiện đại trở nên nhạy cảm thái quá và dễ bị tổn thương. Thậm chí nhiều bạn trẻ không đủ bản lĩnh đối mặt với nỗi đau thất tình nên tự tử và tỷ lệ này đang ngày càng tăng", bà Minh nhận định.
Khảo sát của VnExpress về thái độ khi chứng kiến học sinh đánh nhau, chỉ có 24,8% ý kiến trên tổng cộng gần 17.300 độc giả tham gia, đã chọn phương án can ngăn, gần 33% cho biết sẽ báo cho cơ quan chức năng, trong khi hơn 23% bỏ đi coi như không biết.
Xét khía cạnh khác, Thạc sĩ xã hội học Phạm Thị Thúy cho rằng, thường ở chốn thị thành mức sống cao, người dân luôn nghĩ đó là nơi mà sự quản lý nhà nước chặt chẽ nhất nên họ tin và đặt sự an nguy của mình vào tay lực lượng an ninh. Song thực tế khi xảy ra tai nạn, vì một lý do nào đó mà lực lượng này chưa kịp thời có mặt để phong tỏa hiện trường, dẫn đến tình trạng hỗn loạn, kẻ cơ hội thì xông vào hôi của, người tốt giúp đỡ nạn nhân có khi lại mang họa vào thân...
"Những vụ tham nhũng, hối lộ, tiêu cực của một phận quan chức nơi này nơi kia cũng khiến người dân càng mất lòng tin vào cộng đồng. Rồi ngay cả trong ngành giáo dục cũng có những tiêu cực học giả, bằng giả, tiến sĩ giấy... nên người dân không còn biết đặt niềm tin vào đâu", bà Thúy nói.
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào khẳng định mối quan hệ giữa sự vô cảm với độ tuổi hay văn hóa vùng miền. Tuy nhiên, trên thực tế những người ra tay nghĩa hiệp thường thuộc tầng lớp bình dân, ở độ tuổi 30- 40 trở lên. Các nhà nghiên cứu xã hội học cho rằng, những hành động mang tính nhân văn này thường gắn liền với kinh nghiệm sống, kỹ năng xử lý tình huống, cộng với sự từng trải và đồng cảm. Rất có thể họ đã từng bị mất mát người thân trong những trường hợp tương tự nên ra tay giúp đỡ mà không nề hà, do dự.
Mặc dù vậy, Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh khuyên thái độ lạc quan hay bi quan thái quá đều đem lại kết cục không tốt. Điều quan trọng mọi người cần ý thức rằng, ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, kẻ nghĩa hiệp, người lãnh đạm, vì thế mà mỗi người cần chung tay nhân cái tốt dẹp cái xấu để xây dựng xã hội tốt đẹp hơn.
Trên thực tế, vẫn có những hiệp sĩ hy sinh giúp dân bắt cướp, những người tốt bụng sẵn sàng cứu đồng loại trong hoạn nạn. Hoặc ở một số nơi trong thành phố, người dân vẫn đùm bọc giúp đỡ nhau và giữ được an ninh tốt trong địa bàn sinh sống của họ.
Vì thế để chế ngự cái xấu, phát huy nhân tố tích cực trong xã hội, Thạc sĩ Phạm Thị Thúy cho rằng, một mặt Nhà nước cần can thiệp để nâng cao năng lực đảm bảo trật tự an toàn xã hội của lực lượng công an, cảnh sát. Bên cạnh đó toàn xã hội cần siết chặt đấu tranh chống tệ tham nhũng, các cán bộ cần đi đầu làm gương mới mong tạo được niềm tin trong dân chúng.
Nhắc lại tầm quan trọng của "tam giác" 3 môi trường làm nên nhân cách của một con người là gia đình - nhà trường - xã hội, Thạc sĩ Nguyễn Thị Minh cho rằng, cần có một cuộc "đại phẫu" trong lĩnh vực giáo dục. Công tác đào tạo bên cạnh dạy kiến thức khoa học thì cũng cần phải đề cao những giá trị đạo đức, tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình yêu thiên nhiên, tình đồng loại, cũng như trang bị cho lớp trẻ những kỹ năng sống, kỹ năng xử lý tình huống...
"Trước tiên người lớn cần phải làm gương sáng cho trẻ. Nếu cha mẹ, thầy cô cũng vô cảm thì đừng mong giáo dục được thế hệ trẻ có ý thức hay giàu lòng nhân ái. Còn bản thân người trẻ hãy tự ý thức việc trang bị những kỹ năng sống là của mình chứ đừng chỉ ngồi chờ sự ban phát từ người khác", bà Minh đúc kết.

Vô cảm, bệnh 'mạnh ai nấy sống' thời hiện đại

Một thanh niên bị xe tải đâm nát nửa thân, nhiều người xúm lại xem rồi bỏ đi mặc nạn nhân kêu cứu; 'hôi của' trong tai nạn; bệnh nhân chết vì bác sĩ yêu cầu phải có tiền mới cấp cứu... Sự thờ ơ với nỗi đau người khác dường như thành "chuyện thường ngày ở huyện".

Mới đây nhất, tại TP HCM xảy ra vụ "xe điên" gây tai nạn liên hoàn làm 2 người chết, 17 người bị thương. Trong khi đó, một số người đi đường không những không ra tay cứu giúp mà còn xông vào "hôi của" lấy hết tài sản của nạn nhân.
Chị Hồng Hà, bị thương nặng nhất trong số nạn nhân còn sống đã bị mất toàn bộ số tài sản để trong cốp xe. Một phụ nữ khác tử vong do vết thương quá nặng, song đến 3 ngày sau gia đình mới hay tin vì toàn bộ túi xách đựng giấy tờ tùy thân đã bị lấy mất.
Theo dõi thông tin vụ tai nạn thương tâm trên, nhiều độc giả đã gửi thư đến báo VnExpress.net bày tỏ thái độ phẫn nộ với những kẻ "hôi của máu lạnh" kia. "Không còn gì để nói nữa, sao mà người ta lại có thể hành động như vậy? Thật đúng là không còn chút lương tâm nữa. Tình người dường như đã bị quên đi mất", bạn Tran Hung viết.
Còn những người đã từng tận mắt chứng kiến các vụ tai nạn tương tự thì cho rằng "đó là chuyện thường ngày ở huyện", bởi vẫn diễn ra nhan nhản đâu đó chốn thị thành.
Chốn thị thành, đất chật người đông nhưng các mối quan hệ lỏng lẻo và sự phân hóa giàu nghèo ngày càng rõ rệt. Ảnh: Thi Ngoan
Đã 2 năm qua, người Sài Gòn vẫn chưa hết ám ảnh về vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra tại quận Thủ Đức. Nạn nhân là anh Nguyễn Thành Trung, một cán bộ công an, bị xe tải đâm đứt đôi người. Đoạn video clip do một người dân quay lại hiện trường cho thấy, anh Trung bị xe tải cán ngang hông, dập nát nửa thân dưới. Mặc dù vậy, anh vẫn tỉnh táo, thậm chí còn nhờ mọi người gọi điện về cho gia đình. Song ngay sau đó nạn nhân qua đời, trước khi xe cấp cứu đến hiện trường.
Đoạn video dài 5 phút này được phát đi trên Internet đã dấy nên làn sóng dư luận kịch liệt lên án những người đi đường lúc đó chỉ đứng nhìn mà không ra tay cứu giúp nạn nhân.
Một điển hình khác về thái độ "mạnh ai nấy sống" ở chốn thị thành, xảy ra vào ngày 23/7 tại Cầu Giấy (Hà Nội). Hàng trăm người đi đường bình thản đứng nhìn hai cha con anh Nguyễn Công Vinh tay không chống trả bọn cướp mà không ai vào cuộc giúp đỡ.
Anh Vinh kể, hai cha con anh đang đứng đón xe buýt thì bị một thanh niên móc ví. Khi tên này chuyền tay chiếc ví cho đồng bọn, anh Vinh phát hiện và chộp được tay của hắn. Ngay lập tức đồng bọn kẻ cướp lao vào đánh khiến con trai anh gãy hai chiếc răng. Có hàng trăm người đứng xem mà không ai ra tay giúp đỡ. Cuối cùng anh Vinh đành buông tay để mặc bọn cướp tẩu thoát cùng với chiếc ví.
Mới đây, ngày 25/10 cơ quan tố tụng huyện Năm Căn (Cà Mau) đã điều tra hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng đối với êkip bác sĩ bệnh viện đa khoa khu vực Năm Căn đã để xảy ra cái chết của bệnh nhân Dương Thị Thu Huyền (16 tuổi).
Khoảng 3h sáng ngày 28/6, người dân trong xóm phát hiện Huyền thương tích đầy người nằm bất tỉnh trên đường nên đưa đi cấp cứu. Đến bệnh viện, các bác sĩ ở đây đã từ chối cho nạn nhân nhập viện chỉ vì không đủ tiền. Mãi đến khi có người thân đến bảo lãnh, bệnh viện mới tiến hành cấp cứu qua loa mà không khám toàn diện, bỏ sót dấu hiệu bệnh lý và chẩn đoán không đúng bệnh. Cuối cùng là cô gái trẻ đã tử vong vào rạng sáng hôm sau.
Đây là nguyên nhân khiến hàng trăm người bức xúc đập phá bệnh viện, đưa thi thể thiếu nữ diễu hành trên phố để bắt đền, gây rối trật tự công cộng... Hàng chục người bị bắt, trong đó 34 người bị đề nghị truy tố.
Liên quan đến vụ việc này, bác sĩ Nguyễn Duy Tú (bệnh viện đa khoa khu vực Năm Căn, người trực tiếp khám và điều trị cho bệnh nhân) đã bị cách chức phó trưởng khoa phụ sản và điều sang làm công tác khác. Ngoài ra 2 bác sĩ tham gia hội chẩn và 2 điều dưỡng cũng bị kỷ luật cảnh cáo.
Chiếc xe tải chở đầy tương ớt lật nghiêng tại quốc lộ 1A (đoạn qua huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đã bị người qua đường
Chiếc xe tải chở đầy tương ớt lật nghiêng tại quốc lộ 1A (đoạn qua huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đã bị người qua đường "hôi của". Ảnh: Nguyên Khoa
Nhìn nhận về thái độ vô cảm của con người đã và đang diễn ra ở khắp nơi, mọi lĩnh vực hiện nay, Tiến sĩ xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng, Việt Nam đang có sự chuyển mình giữa một bên là nền văn minh nông nghiệp lúa nước và một bên là văn minh công nghiệp. Vì thế mà xã hội đang có sự đứt gãy về hệ thống giá trị sống, tính huyết thống, lối sống hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau bị nhạt nhòa đi, trong khi trình độ văn minh tiến bộ vẫn chưa định hình rõ ràng.
"Dường như bức tranh xã hội đang có sự đảo lộn của các giá trị, cái ác lên ngôi, trong khi giá trị nhân bản đang bị chìm lấp đâu đấy. Mặc dù cái tốt không phải là mất nhưng nó không đủ sức mạnh thắng thế trong đám đông, không lấn át được những kẻ cơ hội đục nước béo cò", ông Bình nói.
Thế nhưng để xảy ra tình trạng này, ông cho rằng một phần là do sự thể hiện yếu kém của lực lượng chức năng. Họ xuất hiện không kịp thời hoặc với lực lượng quá mỏng không đủ để dẹp yên tình trạng hỗn loạn. Từ đó, những người chứng kiến không dám giúp đỡ nạn nhân và không tố cáo kẻ xấu vì sợ dây dưa, vướng vào vòng lao lý, sợ bị tra hỏi và sợ bị liên đới, mất thời gian…
Tuy nhiên, ông Bình khuyên mọi người không nên đánh mất niềm tin, bởi hiện tượng tiêu cực này sẽ giảm đi khi mà chức năng hệ thống, thiết chế, chức năng trong xã hội định hình rõ ràng hơn. "Như trong vụ tai nạn, nếu lực lượng cảnh sát, dân phòng dẹp ngay thì làm gì có chuyện hôi của. Không chỉ dẹp mà còn hô hào, động viên lòng tốt, tính hướng thiện cả cộng đồng. Ở đây phải có vai trò lực lượng chức năng, các thành tố mà làm đúng công việc của mình thì sẽ triệt tiêu được cái xấu", ông Bình lý giải.
Trên phương diện khác, ông Nguyễn Ngọc Hùng, Trưởng Văn phòng Luật sư Hùng Nguyễn và Cộng sự (Đoàn luật sư TP HCM) cho rằng, sự vô cảm là một khái niệm không có gì mới, nó xuất hiện từ khi có con người, nó tồn tại ở các mức độ khác nhau cùng với sự phát triển của xã hội. Ngay từ thời hái lượm, con người đã có sự vô cảm khi mặc nhiên giành giật thức ăn trước sự đói khát của đồng loại hoặc bỏ chạy khi đồng loại gặp nguy hiểm…
Tuy nhiên khi xã hội phát triển, qua từng thời kỳ, con người đã được dạy biết cách nhường nhịn, yêu thương lẫn nhau, nhờ vậy sự vô cảm dần được kiểm soát. Người ta gọi đó là xã hội văn minh.
"Xã hội Việt Nam cũng không ngoại lệ. Sự vô cảm vẫn tồn tại xuyên suốt lịch sử phát triển và còn mãi. Có điều, chúng ta sẽ mãi tìm cách kiểm soát, khống chế sự vô cảm này. Và một trong những công cụ xã hội quan trọng đó là luật pháp", ông Hùng nhấn mạnh.
Tuy nhiên, luật sư này cũng lưu ý việc luật hóa những ứng xử của con người trong xã hội cần phải cân nhắc thật kỹ để thực sự khuyến khích cái tốt, hạn chế cái xấu. Thế nên cần có một nghiên cứu dài hơn từ nhiều ngành khoa học xã hội để tìm ra nguyên nhân cốt lõi mới mong giải quyết được vấn đề.
"Đây không phải là việc một sớm một chiều, song chúng ta sẽ làm được. Vấn đề ở đây là các nhà hoạch định chính sách không nên chỉ quá chú trọng vào các mục tiêu phát triển kinh tế, chính trị mà bỏ qua mục tiêu xây dựng một xã hội đích thực mà trong đó tình người có thể dễ dàng hiện diện ở khắp nơi. Một xã hội phát triển mà thiếu phần người, xã hội đó sẽ què quặt, bởi các mục tiêu kinh tế, chính trị (dù cực kỳ quan trọng) cũng chẳng biết để làm gì khi con người sống không ra sống, sự vô cảm có cơ hội bùng phát tràn lan", ông Hùng đúc kết.

Bệnh vô cảm: kết quả lối sống thực dụng thời hiện đại

Bé 2 tuổi ở Trung Quốc đã qua đời rạng sáng nay sau nhiều ngày nguy kịch vì bị 2 xe tải đâm. Chuyện xảy ra ở nước ngoài, nhưng không ít người Việt Nam bức xúc nhìn lại thực tế "bệnh vô cảm lan tràn trong xã hội hiện nay".

"Tôi vừa mới làm cha được một tháng nay, thật sự xem xong tin bé 2 tuổi Yue Yue ở Trung Quốc bị 2 xe tải đâm nằm 7 phút trên đường mà không ai chịu cứu giúp, tôi không cầm được nước mắt... Sao tài xế có thể làm như vậy, người đi đường thì quá vô tâm?", một độc giả chia sẻ với VnExpress.net.
Bạn đọc Nguyễn Hữu Bình cũng bày tỏ: "Sự việc trên cho thấy con người ngày càng vô cảm trước đau khổ của đồng loại". Cùng nhiều độc giả khác, anh Bình hết lời ca ngợi người phụ nữ nhặt rác đã bế đứa bé bị nạn vào bệnh viện. "Trong cái xã hội này hình như có mỗi bà ấy mới thực sự là 'người'", anh viết.
Mẹ của em bé 2 tuổi khóc thảm khi . Ảnh: oriental daily news
Mẹ của em bé 2 tuổi Yue Yue khóc thảm khi biết tin con mình bị nạn. Ảnh: oriental daily news
Câu chuyện bi đát xảy ra ở nước láng giềng cách đây 4 ngày cũng làm chấn động lương tâm của nhiều người, và là đề tài "hot" thu hút hàng triệu người quan tâm trên các diễn đàn mạng. Nhiều topic được lập ra để bàn về "lương tâm và bệnh vô cảm". Đa phần các thành viên diễn đàn đều lên án thái độ vô cảm của gần 20 người qua đường trong vụ bé Yue Yue, trong khi một số khác lo ngại về sự xuống cấp đạo đức đang ngày càng lan tràn trong xã hội hiện đại
Từng là nạn nhân sự vô cảm trong cộng đồng, anh Tuân (quận 3, TP HCM) kể, hôm ấy khoảng 21h tối trên đường đi làm về, anh bị một gã say rượu đâm vào khiến cả hai cùng bị thương rất nặng, người bê bết máu. Mặc dù đoạn đường có nhiều người qua lại, nhưng ngoài một cô gái và bà cụ tốt bụng tận tình nhặt dùm đồ đạc rơi ra rồi đứng chặn để bảo vệ hai nạn nhân bê bết máu, còn hầu hết những người khác chỉ dừng lại, đứng nhìn với thái độ tò mò rồi bỏ đi.
Cũng bức xúc trước của thái độ vô cảm của người khác, chị Mai Hoa kể một lần trên đường đi về nhà, tay lái xe của chị bị sọt chở gà của người đi phía sau đang cố vượt lên móc vào. Hai chị em Hoa ngã đập đầu xuống đường. "Ấy vậy mà người đi đường cứ như không thấy gì, mặc kệ hai chị em nằm còng queo và vẫn còn bị xe đè lên người đến 10 phút. Cũng may khi đó không có xe tải nào phía sau chứ không thì chị em tôi giờ chắc đi gặp các cụ tổ rồi", chị nói.
Trên đường phố Sài Gòn ngày nay, vẫn còn rất nhiều những cách hành xử vô tâm theo kiểu nhìn cụ già không dám đi qua đường vì xe cộ đông mà không giúp; thấy một phụ nữ loay mãi không lấy được xe máy từ bãi gửi xe, các cậu thanh niên đi qua lại vẫn trơ trơ; hay tà áo dài của cô gái bị cuộn vào bánh xe trở thành trò đùa chỉ trỏ nhau của giới trẻ cho đến khi cô ngã đập mặt xuống đường…
Như một trường hợp xảy trên đường Võ Văn Tần, quận 3. Hôm ấy một người mua nhớt dạo chở ngang đường làm đổ nhớt. Thay vì tìm cách cảnh báo người đi đường, hoặc dùng cát lấp đống nhớt, một nhóm thanh niên ngồi uống nước ở vỉa hè lại dửng dưng ngồi chờ xem người chạy xe máy cán qua nhớt trượt ngã để phá lên cười.
Bức xúc trước hành động vô tâm, một phụ nữ sau khi bị trượt ngã đã đến công an phường để trình báo. Tuy nhiên khi các nhân viên dân phòng đến để lấp cát và nhắc nhở, nhóm thanh niên phân bua: “Chúng tôi có tội gì đâu, tại thấy người ta tự nhiên chạy rồi ngã nên cười thôi”.
Có rất nhiều lý do để giải thích cho thái độ thờ ơ và căn bệnh vô cảm, song nhiều nhất vẫn là “không phải không muốn giúp nhưng sợ giúp rồi lại mang họa vào thân”.
“Thứ nhất mình không có thời gian, thứ hai dính vào các vụ tai nạn không khéo bị công an mời lên mời xuống, có khi còn bị nghi thủ phạm gây tai nạn nên tốt hơn hết là không liên quan”, anh Hòa, một người từng bị bảo vệ bệnh viện giữ lại sau khi đưa người vào cấp cứu nói.
Trò chuyện với VnExpress.net về vấn đề này, Thạc sĩ tâm lý học Nguyễn Thị Minh, giảng viên học viện Hành chính TP HCM cũng nhìn nhận căn bệnh vô cảm đang ngày càng lây lan rộng rãi trong xã hội loài người.
Trong đó, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thái độ thờ ơ lãnh đạm của một người khi chứng kiến bi kịch của đồng loại. Đó có thể là cảm giác sợ hãi và sợ trách nhiệm liên đới; hoặc không biết và không được dạy làm thế nào để giúp người bị nạn nên bỏ đi; có thể họ quá bận rộn với công việc và nhịp sống hối hả; cũng có thể do chứng kiến nhiều vụ lừa đảo (cố tình dàn cảnh tai nạn để lừa người qua đường)... Cho nên đôi khi thái độ thờ ơ trong những tình huống này thể hiện sự phòng vệ bị động của con người.
Theo bà Minh, căn bệnh vô cảm là kết quả của một lối sống thực dụng ngày ăn sâu vào văn hóa tinh thần của xã hội. Khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức tinh thần, lòng bao dung nhân ái, tình thương yêu đồng loại, sự hy sinh... đang dần bị thế chỗ bởi chủ nghĩa vật chất và lợi ích cá nhân, thì con người không còn cảm giác trước nỗi đau của đồng loại.
"Dường như chữ 'nghĩa' trong xã hội đang dần mất đi nên con người hiện đại chỉ biết sống vì mình, không còn dám hy sinh và sống có trách nhiệm với đồng loại. Chính thay đổi đó đã đẩy con người về hai thái cực: hoặc thờ ơ lãnh cảm với sự an nguy của đồng loại hoặc trở nên quá nhạy cảm và sợ hãi khi lợi ích cá nhân bị đe dọa", giảng viên này nói.
Vì thế để chữa căn bệnh vô cảm đang ngày lan tràn xã hội, nhất là với giới trẻ, bà Minh cho rằng phải làm sống dậy trong con người những giá trị của lương tâm, tình yêu thương bản thân và đồng loại, sự hy sinh và trách nhiệm với xã hội. Bên cạnh đó, gia đình, nhà trường và xã hội cần trang bị cho lớp trẻ những kỹ năng phòng vệ và phản ứng thế nào trong những tình huống có thể gặp phải.
"Mặc dù mục tiêu trên đã được ngành giáo dục xác định rất rõ ràng, song hiệu quả thực tế vẫn chưa đạt được", bà Minh nói.

Từ câu chuyện của bé Yue Yue, tôi rất sợ rồi đây mình cũng sẽ là 1 trong số 19 người qua đường vô cảm đó. Tôi xin kể 2 câu chuyện mà tôi đã trãi qua để chia sẻ cùng mọi người.
Chuyện xảy ra đã lâu, khi tôi còn là sinh viên đại học suốt ngày lọc cọc chiếc xe đạp. Hôm đó tôi gặp một em bé bị thương do một phương tiện khác gây ra bỏ lại. Mặc dù em bị thương không nặng, em bị chảy máu do xây xát ngoài da ở chân và cánh tay. Tôi đã đưa em đến một cửa hàng thuốc tây gần đó để sát trùng vết thương và đưa về nhà.
Tôi thật sự bất ngờ khi mẹ và gia đình của bé hùng hổ bắt tôi phải chịu trách nhiệm bồi thường vì đã gây thương tích cho bé. Mặc dù tôi đã hết lời giải thích nhưng vẫn không thể nào phân bua được với những lời lẽ chợ búa và ngang ngược của họ. Cuối cùng, tôi phải vét hết số tiền đang mang theo người chưa được 100 ngàn đồng đưa cho họ mới có thể ra về. Đứa bé chỉ ngồi khóc không dám nói tiếng nào để thanh minh cho tôi mà gia đình cũng chẳng thèm hỏi đứa bé lấy một câu về lý do bị tại nạn.
Kể cho người khác nghe chuyện này, tôi chỉ nhận được một câu "đồ ngu". Mà tôi cũng thấy mình ngu thật.
Một lần khác tôi gặp một người con ôm người mẹ già ốm nặng ngồi bệt bên đường. Ban đầu tôi muốn dừng lại giúp nhưng rồi chuyện ngày xưa khiến tôi cảm thấy sợ mình bị "ngu" thêm lần nữa. Khi đi rồi tôi vẫn áy náy không an tâm chút nào. Tôi cứ sợ mình bỏ đi rồi hai người họ sẽ như thế nào? tại sau những người đi đường không ai quan tâm đến họ? tại sao những người buôn bán xung quanh đó không đếm xỉa đến họ? Sau đó, tôi lại bắt gặp hai mẹ con nọ cũng trong tình trạng tương tự ngồi lê lết trên nhiều con đường khác của thành phố. Lúc đó tôi mới an tâm và tự nhủ lần này mình không "ngu"
Tuy là lần này mình không "ngu" nhưng nếu như trong trường hợp có người hoạn nạn dọc đường thực sự cần giúp đỡ thì sao? Nếu như tôi lại gặp một trường hợp của bé Yue Yue thì sao? Tôi sẽ là 1 trong 19 người qua đường đó hay chấp nhận mang tiếng "ngu" thêm một lần nữa?

Bệnh 'sống chết mặc bay' của người thành thị
“Trên đường đi dạy, tôi thấy một nhóm nữ sinh vây lại đánh một em khác khiến quần áo dài của cô bé rách toang, máu me đầy mặt, trong khi hàng trăm học sinh khác chỉ tò mò đứng xem”, cô giáo Phương Lan đau đáu.
Chứng kiến cảnh này, cô giáo dừng xe lại và đề nghị các học sinh giải tán, song nhóm nữ sinh kia còn đòi lao vào đánh cả cô. Rất may lúc đó có một thầy giáo can thiệp kịp, giúp cô Lan vực em gái kia dậy và đưa vào trạm xá gần đó để băng bó vết thương.
“Học trò bây giờ bạo lực quá, sẵn sàng hành hung người khác vì bất cứ lý do gì. Tôi từng nghe học trò phản ánh về những cuộc thanh trừng đẫm máu của các nhóm nam sinh để trả thù hoặc vì lý do tình cảm. Nhưng hôm đó trực tiếp chứng kiến các nữ sinh ra tay với cô bé cùng lớp như băng nhóm xã hội đen, trong khi hàng trăm nam thanh nữ tú chỉ đứng nhìn, tôi thực sự sốc và thất vọng”, cô giáo dạy văn cấp 3 tại Đồng Nai kể lại.
Làm việc 15 năm trong ngành giáo dục, chứng kiến sự thay đổi trong lối sống của các thế hệ học sinh, cô Lan lo lắng: “Sự xuống cấp về đạo đức trong giới trẻ bây giờ thực đáng ngại, không còn chỗ cho sự tha thứ, cảm thông. Dường như bạo lực đang chiếm vị trí thượng tôn trong các mối quan hệ”.
Vô cảm là một đặc điểm của xã hội đô thị khi nhịp sống quá hối hả. Ảnh: Ngoan Ngoan.
Kim Hường, sinh viên trường Đại học Kinh tế TPHCM nhìn nhận, ngày nay không còn nhiều bạn trẻ nhường ghế cho người già, phụ nữ trên xe buýt nữa; hay chứng kiến những cảnh tượng tai nạn giao thông, cướp giật trên đường, ít người dám ra tay giúp đỡ hay ngăn cản "bởi ai cũng sợ bị liên lụy”.
Cô cũng thú thực nếu gặp người bị nạn chắc cũng không dám giúp đỡ. "Trên thực tế đằng sau hành động nghĩa hiệp còn cả khối trách nhiệm dân sự phải thực hiện rất tốn thời gian, nào là khai báo với bệnh viện, rồi năm lần bảy lượt lên trình diện chính quyền hay công an. Đó là chưa kể khi người đó chết, mình sẽ bị nghi là thủ phạm mà mình lấy đâu bằng chứng chứng minh ngược lại”, cô gái trẻ cho biết.
Hường băn khoăn, ngày xưa ở nhà được bố mẹ dạy ra đường gặp người hành khất phải giúp đỡ. Song sống ở thành phố có quá nhiều người giả xin ăn nên Hường trở nên nghi ngờ tất cả. Cô nói: “Nhiều lúc sinh viên còn nghèo hơn họ. Hồi đầu, thấy một bà cụ mù đi với cháu gái nhỏ đến xin tiền, tôi không cho, cảm giác cũng áy náy lắm. Nhưng dần dần tôi trở nên bình thường hơn, không còn bứt rứt như trước nữa, song nghĩ bản thân đang ngày càng vô cảm, cũng sợ lắm”.
Tìm kiếm từ khóa "vô cảm trong xã hội" trên mạng Google, chỉ trong vòng 0,23 giây bạn sẽ nhận lại đến gần 35 triệu kết quả, gồm những bài nghiên cứu, bình luận trên web, blog, facebook, diễn đàn… lên án căn bệnh vô cảm xoay những vụ việc nổi cộm như: sinh viên trường Đại học Ngoại thương chặt đầu người yêu phi tang, Chủ tịch huyện ém nhẹm tiền hỗ trợ nạn nhân bão lụt, tài xế gây tai nạn cố tình cán chết người...
Theo một khảo sát hồi tháng 3 vừa qua của VnExpress.net trên hơn 17.000 bạn đọc, khi được hỏi "bạn sẽ làm gì khi chứng kiến học sinh đánh nhau", hơn 40% cho biết họ sẽ chỉ đứng nhìn, hoặc bỏ đi, coi như không biết. Chỉ có gần 25% tuyên bố sẽ can ngăn những vụ bạo lực này.
Bạn sẽ làm gì khi chứng kiến học sinh đánh nhau?
Nhìn nhận vấn đề này, ông Vũ Toản, Thạc sĩ xã hội học, giảng viên trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân Văn TP HCM cho rằng, sự vô cảm là sản phẩm của quá trình đô thị hóa. Nó trở nên phổ biến và không thể cưỡng lại trong thời kỳ công nghiệp như Việt Nam giai đoạn này. Khi phải bon chen mưu sinh, ai cũng lo bảo vệ lợi ích cá nhân thì sự vô cảm với xã hội sẽ nảy sinh. Biểu hiện ban đầu là không quan tâm đến người khác, rồi dần dần sẵn sàng sát hại đồng loại vì lòng tham.
Nhà nghiên cứu xã hội học nhìn nhận, con người đô thị thường mang tính duy lý. Họ duy trì các mối quan hệ với nhau không vì tình cảm mà chủ yếu vì lợi ích. Chẳng hạn người bán hàng cố gắng chiều lòng "thượng đế" để đôi bên cùng có lợi, hoặc một nhân viên quan tâm thăm hỏi sức khỏe của sếp bởi đấy là người có quyền sa thải hay thăng chức cho mình.
Để tự bảo vệ lợi ích bản thân, người ta có thể từ chối một số mối quan hệ ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống của họ hay gây ra những rắc rối không mong đợi. Điều này lý giải hiện tượng khi thấy tai nạn giao thông, nhiều người có xu hướng tránh không dây vào, bởi họ đắn đo về sự có mặt của mình chưa chắc đã làm cho sự việc tốt đẹp hơn. "Bên cạnh đó giúp người còn khiến không ít người mất thời gian, ảnh hưởng đến công việc và đảo lộn nhịp sống hàng ngày của mình”, ông Toản khẳng định.
Sự phân chia chức năng trong xã hội đô thị cũng là nhân tố gây nên hiện tượng này, theo chuyên gia này. Chẳng hạn trách nhiệm giữ trật tự xã hội, xử lý tai nạn giao thông là của công an, cảnh sát. Hơn nữa, trong một khối lượng xe khổng lồ lưu thông trên đường mà có nhiều người dừng lại giúp nạn nhân chưa chắc đã làm cho tình hình tốt hơn, thậm chí càng làm giao thông tắc nghẽn. Với lý giải này, người ta dễ làm ngơ trước những cảnh tượng mà đáng ra họ có thể giúp đỡ.
Hiện nay chưa có nghiên cứu nào khẳng định mối quan hệ giữa sự vô cảm với độ tuổi hay văn hóa vùng miền. Tuy nhiên, trên thực tế những người ra tay nghĩa hiệp thường ở độ tuổi 30-40 trở lên. Theo quan điểm cá nhân của ông Toản, những hành động mang tính nhân văn này thường gắn liền với kinh nghiệm sống, cộng với sự từng trải và đồng cảm. "Rất có thể họ đã từng bị mất mát người thân trong những trường hợp tương tự nên ra tay giúp đỡ mà không hề nà, do dự", ông nói.
Trước thực trạng tuổi trẻ ngày càng vô cảm trước tai ương của đồng loại, ông Toản cho rằng không thể trách vì họ không có lỗi, cũng như trải nghiệm chưa đủ nên chưa biết rung cảm trước những đau thương mất mát của người khác. Theo ông, vấn đề còn do thiết chế xã hội, pháp luật chưa bảo vệ được người trẻ trong những tình huống xảy ra xô xát.
Tuy nhiên, ông cho rằng không nên có cái nhìn quá bi quan về hiện tượng này, vì ở đâu cũng có người tốt kẻ xấu, kẻ nghĩa hiệp, người lãnh đạm. Bệnh vô cảm sẽ tự biến mất khi cuộc sống kinh tế đầy đủ, con người sống chậm lại và tìm về những giá trị tình cảm, tinh thần. Lúc đó con người sẽ nhận ra, tiền bạc vật chất không phải là tất cả, mà đó chỉ là phương tiện để mang người với người lại gần nhau hơn. Ngày nay nhiều gia đình ở thành phố cũng bắt đầu ý thức giữ gìn mối quan hệ họ hàng, láng giềng, như một dấu hiệu khả quan.
Trên phương diện khác, Thạc sĩ giáo dục Phạm Phúc Thịnh nhìn nhận, trong những vụ án gần đây, hầu như cha mẹ của hung thủ đều bất ngờ trước tội lỗi của con cái mình, thậm chí có người còn khẳng định con cái họ là những đứa con ngoan trong nhà. Yếu tố này cho thấy sự lỏng lẻo trong quan hệ gia đình, người làm bố mẹ đang quá chú trọng đến việc “nuôi” mà quên mất việc “dạy” con thành người.
Ông Thịnh cho rằng, thực tế hiện nay nhiều bậc cha mẹ sinh con ra nhưng chưa thấu hiểu kiến thức về giáo dục con cái. Đa phần họ áp dụng hình thức “sao y” từ thế hệ trước mà không thấy sự thay đổi quá nhanh của xã hội, nên rất khó để thích nghi.

Chực chờ 'hôi của' trong tai nạn

Trong khi mọi người cuống cuồng tìm cách cứu chữa cho nạn nhân thì cũng có kẻ lợi dụng bất hạnh của họ để "mót" tài sản. Tình trạng "hôi của" xảy ra ở nhiều vụ tai nạn gần đây khiến dư luận bức xúc.

Đến hôm nay nhiều người dân TP HCM vẫn chưa hết bàng hoàng về vụ "xe điên" gây tai nạn hàng loạt trên đường Lý Thái Tổ (quận 10) làm 2 người chết, 17 người bị thương. Những người gặp nạn hôm ấy không chỉ phải chịu sự đau đớn, mất mát về thể xác mà còn bị mất hết tài sản.
Tại Bệnh viện 115 (quận 10, TP HCM), chị Nguyễn Thị Hồng Hà (30 tuổi, nạn nhân trong vụ tai nạn) tỉnh dậy sau một thời gian hôn mê đã bật hỏi: "Tiền của tôi đâu? tiền trong cốp xe còn không?" rồi lại ngất lịm.
Cảnh hỗn loạn trong vụ tai nạn trên đường Lý Thái Tổ chiều 7/10, nhiều người đã nhanh tay
Cảnh hỗn loạn trong vụ tai nạn trên đường Lý Thái Tổ chiều 7/10, nhiều người đã nhanh tay "chôm" tài sản của nạn nhân. Ảnh: An Nhơn.
Người mẹ nuôi ngoài 60 tuổi của chị Hà thẫn thờ cho biết: "Tôi không dám nói với nó tiền mất sạch hết rồi. Tôi phải bảo công an đang giữ giùm để nó khỏi đau đớn hơn".
Bà bảo, hiện gia đình vẫn chưa xác định được chị Hà đã mất bao nhiêu tiền, vàng trong vụ tai nạn thảm khốc đó bởi chị vẫn bị hôn mê sâu. Nhưng đó là toàn bộ gia sản của chị, trong đó có khá nhiều tiền và đôla. "Phía công an cho biết khi khám hiện trường chỉ có một ít tiền lẻ trong cốp xe của Hà, hoàn toàn không có USD hay số tiền lớn nào", người mẹ nuôi buồn bã nói.
Các nhân viên bệnh viện cho hay, một nạn nhân trong vụ "xe điên" đã qua đời do vết thương quá nặng. Tuy nhiên phải 3 ngày sau gia đình mới biết vì túi xách đựng giấy tờ tùy thân đã bị ai đó lấy mất, công an không biết địa chỉ để báo tin.
Nhiều người dân sống gần hiện trường vụ tai nạn ở ngã tư Lý Thái Tổ - Sư Vạn Hạnh cho biết, lúc tai nạn có hàng loạt điện thoại, ví tiền, túi xách, tư trang... của nạn nhân rơi vãi khắp nơi. Có người đã lạnh lùng xông vào nhặt và đút túi.
"Lúc đó tất cả đều hoảng loạn. Chúng tôi ai cũng lo sơ cứu nạn nhân chứ không để ý đến những vật dụng rơi dưới đất. Có hàng trăm người tham gia nên không thể kiểm soát được hành động của từng người", anh Trần Văn Tý (nhân viên bảo vệ một cửa hàng cạnh vụ tai nạn) kể lại.
Tuy nhiên có một chi tiết chính anh chứng kiến trong cảnh hỗn loạn hôm ấy, đó là lúc hai cô gái trẻ bị ôtô 4 chỗ hất tung cả xe và người vào lề đường, máu rịn dưới cùi tay, xây xát khắp nơi, hai cô gái gượng dậy ôm nhau khóc rồi dìu nhau đi, bỏ lại chiếc Wave trên lề đường. Ngay sau đó anh Tý và mọi người thấy có hai thanh niên lẳng lặng đến dắt chiếc xe đi. Chị Linh (27 tuổi, người sống tại khu vực) đã phải chạy ra giằng co với hai thanh niên, buộc họ đưa xe để giao cho công an.
Anh Dũng (chồng chị Linh) cho biết, có những người rất tốt bụng, mua thuốc men, bông lau vết thương sơ cứu, thậm chí khi chiếc xe tay ga bị cháy, họ còn lấy bình cứu hỏa dập lửa với hy vọng cứu lấy tài sản cho nạn nhân. "Tuy nhiên, cũng nhiều người đi đường đã lợi dụng hoàn cảnh, giả vờ vào khiêng nạn nhân nhưng tay thì vẫn lấy điện thoại, ví tiền, tư trang của họ bỏ túi. Thật vô cảm!", anh nói.
Tuy nhiên cũng có người cho rằng việc hôi của là bình thường. Tại quán cà phê "cóc" gần hiện trường, khi được hỏi về việc này, một người đàn ông trung niên tỉnh bơ: "Có thằng nào ngu thấy ví tiền giữa đường mới không lấy. Còn trường hợp đưa cho công an trả người ta hả? Đó là vì nhiều người thấy quá, nuốt không trôi hoặc chia chác không đều. Nếu là tôi, tôi sẽ cất đi. Có ai hỏi thì đưa, không thì lấy luôn".
Chiếc xe tải chở đầy tương ới lật nghiêng tại quốc lộ 1A (đoạn qua huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An), trước đó đã bị người qua đường
Chiếc xe tải chở đầy tương ớt lật nghiêng tại quốc lộ 1A (đoạn qua huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đã bị người qua đường "hôi của". Ảnh: Nguyên Khoa.
Cũng giống trường hợp của những nạn nhân trong vụ tai nạn "xe điên" này, thời gian qua đã xảy ra nhiều vụ "hôi của" gây bức xúc dư luận.
Ngày 16/6, người đàn ông đi xe máy đến đoạn vòng xoay ngã năm An Dương Vương - Trần Phú - Sư Vạn Hạnh (quận 5, TP HCM) thì bị hai tên cướp từ phía sau giật giỏ xách. Do ông này giữ chặt giỏ xách nên hai tên cướp không giật được đành tẩu thoát.
Tuy nhiên, sự giằng co quá mạnh giữa hai bên đã khiến số tiền lớn trong giỏ xách bung ra đường. Trong lúc người đàn ông còn đang hoảng hốt thì nhiều người dân và cả người đi đường đã xô vào giành giật, lấy sạch số tiền đó trước sự bất lực của chủ nhân. Ông này chỉ biết đau khổ đứng nhìn.
Gần một tháng sau, ngày 9/7, trên quốc lộ 1A qua huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An), một chiếc xe tải chở đầy tương ớt đang chạy từ Bắc vào Nam bị mất lái khiến xe tải lật nghiêng. Toàn bộ số tương ớt trên xe bị đổ xuống đường.
Ngay lập tức, nhiều người dân qua đường đã chạy đến để "hôi" tương ớt. Cố gắng bảo vệ tài sản nhưng không có kết quả, tài xế chiếc xe tải phải cầu cứu đến chính quyền địa phương. Vụ "hôi của" khiến quốc lộ 1A bị tắc nghẽn.

'Hôi của' có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

"Người lợi dụng việc người khác bị tai nạn giao thông để lấy tài sản thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản hoặc trộm cắp tài sản”, luật sư Nông Thị Hồng Hà tư vấn.

Hành vi lợi dụng việc người bị tai nạn bị ngã, choáng, ngất, thậm chí đã chết… để nhặt, lấy đồ đạc, tiền bạc (hôi của) của người bị tai nạn giao thông không chỉ là hành vi đáng lên án về mặt đạo đức mà còn là hành vi vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Tùy từng trường hợp cụ thể, người có hành vi “hôi của” có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” hoặc tội “Trộm cắp tài sản”.
Trong trường hợp hành vi “hôi của” chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì người thực hiện hành vi “hôi của” sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.
Công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của người khác trong hoàn cảnh người chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản. Điều 137 Bộ luật hình sự quy định về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” như sau: “Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Bên cạnh mức hình phạt trên điều luật còn quy định ba khung hình phạt nặng hơn; trong đó mức hình phạt cao nhất cho tội này có thể là tù chung thân. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 100 triệu đồng.
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Theo quy định tại Điều 138 BLHS thì: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Tội “Trộm cắp tài sản” cũng có ba khung hình phạt nặng hơn; trong đó mức hình phạt cao nhất cho tội này có thể là tù chung thân; người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
Trường hợp nạn nhân có khả năng nhận biết tài sản của mình bị chiếm đoạt nhưng không có điều kiện ngăn cản vì đau, chấn thương … do tai nạn giao thông thì người “hôi của” có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Trường nạn nhân không có khả năng nhận biết tài sản của mình bị chiếm đoạt vì choáng, ngất … do tai nạn thì người “hôi của” có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 18 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội, nếu hành vi “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” hoặc “Trộm cắp tài sản” của người chiếm đoạt tài sản chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người đó có thể bị phạt tiền từ 1 triệu đồng đến 2 triệu đồng và phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra.
Luật sư Nông Thị Hồng Hà

Sự vô cảm nhân danh... đồng loại?
Khi con người chúng ta, là nô lệ của tham vọng ích kỳ, đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm; khi con người là nô lệ của thèm muốn quyền lực, của mua quan bán tước, là nô lệ của đồng tiền, lợi lộc không phải do lao động làm ra, ấy là khi con bệnh vô cảm được tự do hoành hành nhất, “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Có  phải hiện tượng hiếm?
Ngày 13/8/2011 mới  đây, một vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường Võ Thị Sáu (P7, Q3, TP. HCM), mà nếu ai được  đọc trên VietNamNet, sẽ không khỏi cúi đầu suy nghĩ, xót xa, khi chứng kiến "Sự hiếu kỳ  đớn hèn trên đường phố".
Nạn nhân, một thanh niên  đi xe máy nằm bất động trên đường, do bị  va chạm với một xe máy khác. Chiếc xe này ngay lập tức  đã bỏ trốn. Một chiếc xe buýt chở đầy khách may mắn kịp dừng lại trước người bị tai nạn. Nhưng thật lạ lùng, người bị nạn vẫn nằm  đó, im lìm, bất động. Tài xế, nhân viên nhà  xe thì đứng đó... chờ, còn hành khách ngồi bình thản trong xe. Trên lề đường, người hiếu kỳ tụ  tập đứng nhìn...
Thật ra, cái hình ảnh đó quá quen thuộc trên bất cứ đường phố  nào trong xã hội ta hiện nay. Người ta đứng nhìn, và nhìn.... Tựa như chưa bao giờ nhìn thấy người bị tai nạn giao thông, mà quên đi cái sống chết với người bị nạn chỉ mong manh gang tấc, đang rất cần những bàn tay giơ ra cứu giúp.
Rất may, có 3 đoàn viên thanh niên trong Đội phản ứng nhanh của Thành đoàn TP.HCM. Các anh lao đến bên nạn nhân, tìm cách chặn các xe ô tô đi qua. Nhưng một lần nữa, những chiếc xe ô tô cũng lướt nhanh qua, "vô cảm"  như những con người hiếu kỳ đang đứng đó.
Cuối cùng, một chiếc xe cứu thương đang trên đường đưa người bệnh đến cấp cứu, cũng đã dừng lại.
Không biết số phận người bị nạn ra sao. Nhưng "sự hiếu kỳ  đớn hèn" trên đường phố còn đọng lại trong lòng người đọc, như một nỗi xót xa không dễ gì tan ngay được.
Liệu cái sự nhẫn tâm đến thành vô cảm có phải là hiện tượng hiếm?
Trước đó, ngày 18/6, báo Pháp Luật TP. HCM đưa tin và ảnh một vụ việc xảy ra dưới thanh thiên bạch nhật có thể nói là đồng loại...ăn cướp một cách đê hèn của  đồng loại.

Vụ tai nạn giao thông xảy ra trên đường Võ Thị Sáu: nạn vẫn nằm đó, im lìm, bất động
Một người đàn ông đi xe máy gặp cướp ngay vòng xoay ngã 5 An Dương Vương. Không giằng được túi xách, 2 tên cướp tẩu thoát bỏ lại nạn nhân với chiếc túi rách toạc, tiền bay tung tóe.
Ngay lập tức, những người quanh đó và nhiều người đi  đường dừng xe. Nhưng thay vì đuổi cướp, họ  hối hả "đuổi" theo những đồng tiền  đang vung vãi, hối hả "cất hộ" tiền của nạn nhân vào túi mình, trước ánh mắt bất lực và đau đớn của nạn nhân.
Người đàn ông thoát khỏi kẻ cướp chuyên nghiệp, nhưng lại gặp phải bọn cướp nhân danh...đồng loại. Và ông đã không thể thoát
Nói thật, khi nhìn hình ảnh đám đông xúm xít vì những đồng tiền ăn cướp, người viết bài thấy sao mà cay đắng thế. Cay đắng đến muốn khóc!
Không hiểu họ có giầu lên vì những đồng tiền  ăn cướp của người bị nạn không? Và họ  nghĩ gì khi tiêu những đồng tiền đó? Họ  có bao giờ đặt hoàn cảnh mình, hoặc chính người thân của mình chẳng may bị nạn, thì sẽ nghĩ  thế nào? Hay tặc lưỡi theo chủ nghĩa Mackeno: "Sống chết mặc bay, tiền ông bỏ túi"!
Xe máy bị  cướp, nhưng xe tải cũng chẳng thoát khỏi thân phận.
Đó là vụ việc ngày 28/7, chiếc ô tô tải mang BKS 47P chạy theo hướng Nam - Bắc, đến km 648 quốc lộ 1A thuộc xóm 16 (Đại Trạch, Bố Trạch- Quảng Bình) thì bị lật nghiêng khiến toàn bộ thùng hàng chứa hoa quả đổ tung tóe giữa đường.
Thế là, thay cho việc giúp đỡ người lái xe không may, hàng trăm người dân  đi đường "tự giúp mình" bằng cách lao vào tranh giành hoa quả, khiến cảnh tượng vô cùng hỗn loạn và tuyến quốc lộ 1A lâm vào ùn tắc nghiêm trọng.
Đương nhiên, không phải lúc nào những kẻ cướp loại này cũng gặp may, mà có khi lại phải đóng vai bi hài. Một vụ tai nạn tương tự cách đây ít lâu trên đường quốc lộ 5. Một chiếc xe tải đổ, và những kẻ cướp thì hí hửng vơ vét. Nhưng rồi, 2 chiếc xe máy của kẻ cướp đường trong phút chốc cũng bị kẻ khác nẫng mất. Từ kẻ cướp đường thành kẻ bị hại. Ngưu tầm ngưu, thì mã tầm mã. Cổ nhân nói cấm sai.
Khi chứng kiến các vụ  việc, những người có chút lương tâm không khỏi xót xa. Vì xưa nay, đạo lý của người Việt  bao giờ cũng thấm đẫm tính nhân văn theo tinh thần  "chị ngã em nâng", "lá lành đùm lá  rách".... Có bao giờ thờ ơ kiểu: "Anh chết mặc anh", hay "Lá lành lừa... lá rách"  như bây giờ? Vì sao vậy?
Lý giải về những hiện tượng tiêu cực, trước đây chúng ta thường đổ tại- đó là vì kinh tế thị trường làm tha hóa con người. Thế nhưng cũng có không ít quốc gia, kinh tế thị trường phát triển sớm, nhưng xã hội ổn định, đâu có nhan nhản những chuyện vô cảm đến đau lòng như vậy? Cho dù chắc chắn, xã hội nào cũng có người tốt, kẻ xấu, có chuyện hay chuyện dở.
Thì việc đổ tại kinh tế thị trường làm tha hóa con người, là thứ ngụy biện dễ nhất. Mà không thấy rằng, chính chúng ta đang tự làm tha hóa chúng ta. Từ vô cảm đến tội ác, khoảng cách đó không xa.
Diện mạo con bệnh vô cảm
Khi mổ xẻ gốc rễ của con bệnh vô cảm, cũng có không ít người  đổ lỗi cho giáo dục là nguyên nhân sâu xa của văn hóa làm người. Điều đó có phần  đúng nhưng không phải tất cả. Lý do là ngay sau vụ cướp tiền của các bậc cha chú, ngay trên mạng xã hội, nhiều tiếng nói, trong đó có cả  thanh niên thế hệ 9X đã chỉ trích việc làm vô lương tâm này.
"Tôi là sinh viên, là thế hệ trẻ 9x. Những người lớn tuổi làm những chuyện xấu này liệu có thể dạy được con, cháu chúng tôi lớn lên và trở thành một công dân tốt? Liệu có thể tạo ra một người tốt nếu như bản thân họ lại có những hành vi đáng trách như vậy?" (VietNamNet, ngày 7/8).

Xe chở hoa quả bị lật giữa đường tại Quảng Bình, hàng chục người đã xông vào hôi của
Vậy phải chăng, lỗi của căn bệnh vô cảm có gốc gác ở ngay chính trong cơ chế quản lý xã hội này, mà giáo dục chỉ là một thành viên góp phần?
Ai có thể nhìn thấy diện mạo của con bệnh vô cảm, mặt ngang mũi dọc ra sao?
Trong trả lời phỏng vấn báo chí mới đây, chuyên gia kinh tế cao cấp Phạm Chi Lan đã nhìn ra nó. Đó cũng là 2 trong số 5 biểu hiện bệnh lý mà xã hội ta sẽ phải đối mặt nếu muốn vượt ra khỏi  "vòng nguy hiểm" trên hành trình phát triển và  hội nhập:
- Là quốc nạn tham nhũng đang biến tướng, ngày càng phức tạp với quy mô rộng hơn, tham lam hơn, làm thất thoát tài sản của dân nhiều hơn.
- Là những nhóm lợi ích đã và đang chi phối xã hội ở nhiều lĩnh vực. Đó là những nhóm lợi ích ích kỷ, chỉ nghĩ cho cá nhân mình, gia đình mình, công ty và tập đoàn mình, không nghĩ tới lợi ích chung của đất nước.
Nhưng con bệnh vô  cảm còn lây lan và lộng hành hơn thế. Nó biến hóa vô hình. Không chỉ nằm trong những nhóm lợi  ích, những người có điều kiện tham nhũng, con bệnh vô cảm len lỏi đến mọi ngõ ngách của  đời sống xã hội, đến tận cách hành xử của thường dân.
Nó nằm trong đồng tiền mà người cán bộ công quyền thản nhiên  đút túi, mỗi khi người dân cần đến cửa quan.
Nó nằm trong đồng tiền mà người thầy thuốc thản nhiên đút túi mỗi khi người bệnh cần cứu giúp.
Nó nằm trong đồng tiền mà người thầy giáo thản nhiên đút túi mỗi khi học trò, người học cần kiến thức, để vượt qua cửa ải của học vấn.
Sự thản nhiên của con người trước nỗi đau đồng loại càng nhiều, sự vô cảm càng nảy nở.
Khi con người chúng ta, là nô lệ của tham vọng ích kỳ, đặt lợi ích quốc gia dưới lợi ích cá nhân, lợi  ích nhóm; khi con người là nô lệ của thèm muốn quyền lực, của mua quan bán tước, là nô  lệ của đồng tiền, lợi lộc không phải do lao động làm ra, ấy là khi con bệnh vô cảm được tự do hoành hành nhất, "dọc ngang nào biết trên  đầu có ai".
Thì việc nó nằm trong thái độ thờ ơ của con người với cái sống chết của con người đang bị tai nạn, nằm trong thái độ cướp bóc một cách hèn hạ không chút day dứt trước nỗi đau của đồng loại, cũng là điều không khó hiểu, dù thật đau xót và đáng phẫn nộ.
Đó là sự vô cảm nhân danh... đồng loại.
Nhưng liệu, có liều thuốc đắng nào có thể chữa trị cho con bệnh vô cảm này không?

Khả năng tưởng tượng, thuốc trị tận gốc bệnh vô cảm?

Muốn chống vô cảm một cách tích cực và triệt để thì nhà trường phải nuôi dưỡng khả năng tưởng tượng từ bé cho trẻ em.
Dạy lối sống đạo đức cho trẻ em tức là phải chủ động tạo ra những "tình huống mẫu" sống động để trẻ em tự mình "sống" trực tiếp trong đó. Tình huống mẫu càng trừu tượng, càng có tính hư cấu cao càng tốt. Khi trẻ em đã sống hẳn hoi trong đó thì chúng tự giác tìm tòi, tìm hiểu mọi thứ để đáp ứng đòi hỏi của tình huống. Rút cục chúng "nhiễm" thói quen "đạo đức" tự lúc nào không hay.

Bài viết dưới đây nêu một giải pháp nhìn từ góc độ giáo dục trong nhà trường từ một chuyên gia giáo dục.
Một hiện tượng hoặc sự kiện có thể gây ra sự phản ứng đồng loạt của số đông thậm chí của toàn xã hội, thì trước hết tự nó phải mang tính chất của điều gì đó- trái với hoặc đi ngược lại hẳn với sự hiểu biết tự nhiên - hay còn gọi là lương tri.
Sản phẩm bị lỗi và xã hội... đầy rẫy lỗi?
Tức là cái việc ấy là không thể chấp nhận được, đối với hầu hết mọi người. Có những việc về bản chất thì sai lè nhưng có khi vẫn được nhiều người thông cảm (tha thứ, chấp nhận), tức là không phải ai ai cũng phản đối. Trong trường hợp ấy một số người nào đó đã dùng lý trí để nhận định.
Vô cảm là 1 thái độ của con người. Nó chỉ trở nên không thể chấp nhận được khi nó bị chuyển hóa thành một thái độ nhẫn tâm. Hiện tượng vô cảm trong xã hội không phải nay mới có, nó vẫn tồn tại từ xưa nay. Hiện nay bởi vì nó đã bị biến hóa thành rất nhiều dạng cư xử nhẫn tâm cho nên nó gây ra sự phẫn nộ cho rất nhiều người. Những người tỏ thái độ phẫn nộ là những người đang lên tiếng nhân danh lương tri.
Như thế tức là trong xã hội có nhiều cách, nhiều kiểu phản ứng trước sự vô cảm, nhẫn tâm. Số đông, một cách tự nhiên, chủ yếu phản ứng nhân danh lương tri. Giới chuyên gia thì nhìn nhận vấn đề từ góc độ chuyên môn của mỗi người.
Nhà xã hội học, chẳng hạn, nhìn sự việc dưới góc độ hậu quả do những xu hướng xã hội nào đó gây ra. Nhà nghiên cứu luật pháp thì xem xét những tình huống, nguyên nhân, động cơ ... để định ra cái gọi là biện pháp trừng phạt hoặc khung hình phạt. Nhà tâm lý học chú trọng tới việc giải thích tâm lý của người có hành vi vô cảm.
Thậm chí trong 1 chuyên ngành hẹp như tâm lý- bệnh học thì người chuyên gia còn tìm kiếm những nguyên nhân tâm thần bệnh học dẫn đến hành vi như thế, như thế... (điều mà hiện nay đang bị coi nhẹ trong xét xử, chẳng hạn những vụ án giết người man rợ).
Nếu truy tiếp thì sẽ có 1 câu hỏi được đặt ra: Vậy, ai là người nói đúng. Hơn nữa và từ đó để suy ra rằng rút cục ai sẽ là người đứng ra nhận giải quyết vấn đề. Nhìn từ góc độ chung nhất thì câu trả lời có thể sẽ là: Tất cả những ai có khả năng giáo dục (bất kể làm chuyên môn gì). Nhìn hẹp hơn nữa thì người đứng ra giải quyết phải là gia đình cùng với nhà trường.
Nhưng nhìn từ góc độ phương pháp kỹ thuật cụ thể và dùng chung cho toàn xã hội thì nhiệm vụ nói trên nên được giao phó chủ yếu cho nhà trường. Nhà trường dạy sai thì cả xã hội gánh chịu hậu quả. Như một cái vòng luẩn quẩn, nhà trường nếu dạy "sai" sẽ cung cấp những sản phẩm bị lỗi để rồi sau đó chính những sản phẩm bị lỗi đó lại tiếp tục góp phần duy trì một xã hội đầy rẫy lỗi và 1 nhà trường tiếp tục sai triền miên.
Thực tế là hiện nay người lớn đang cung ứng vô số sản phẩm văn hóa vô cùng ít tính văn hóa. Thị trường phim ảnh, âm nhạc tràn ngập thị hiếu tầm thường. Sách truyện tranh, trong đó phải đau lòng kể ra cả bộ truyện tranh đô-rê-môn rất nổi tiếng (với những câu thoại cộc lốc) đang tiêu diệt trí tưởng tượng của trẻ em.
Những trò chơi trên truyền hình (game show) giống hệt nhau ở cách khai thác kỹ năng "đoán mò", mẹo "đánh lén" và thói quen cố sống cố chết đưa ra một câu trả lời được coi là "duy nhất đúng" (kiểu thi trắc nghiệm!). Rút cục, nhà trường, về phần nó, vẫn đang tiếp tục đào tạo những trẻ em giống như những con rô-bốt vô cảm.


Khả năng tưởng tượng là phương tiện tự nhiên giúp trẻ em trưởng thành. Ảnh minh họa
Nhà trường đang dạy "bơi trên bờ"
Vô cảm là thiếu vắng khả năng tưởng tượng hoặc kém cỏi về khả năng tưởng tượng. Khả năng tưởng tượng là phương tiện tự nhiên giúp trẻ em trưởng thành. Đơn giản bởi vì không phải tất cả những gì trẻ em "học" thì cũng đều "có mặt" trong thực tế. Nhờ khả năng tưởng tượng mà trẻ em có thể "nhìn thấy" cái vắng mặt, thậm chí nhìn thấy hậu quả của cái vắng mặt - bản chất của khả năng tự kiềm chế, khả năng tự chủ.
Nhưng nhà trường dạy khả năng tưởng tượng cho trẻ em bằng cách nào? Các nhà giáo dục thường dùng ví dụ về học bơi để minh họa nguyên lý "học trong thực hành" hoặc học bằng "tự mình làm" (learning by doing). Hiện nay nhà trường đang "dạy bơi" cho trẻ em bằng cách bắt chúng đứng trên bờ học vẹt đủ những thứ nội quy và hướng dẫn mà không để cho chúng được bơi thật trong bể bơi!
Nhà trường nhồi nhét vào đầu trẻ em đủ những cái cao đẹp trừu tượng (phần lớn là từ kinh nghiệm chủ quan của người lớn, chẳng hạn như có người đã liều lĩnh trích lạc ngữ cảnh một câu nói của Bác rằng: "Học thì phải học Khổng Tử") hoặc ngồi một chỗ để đề ra cái gọi là "hệ giá trị con người" thì thực chất cũng chỉ là "dạy bơi trên bờ" mà thôi!
Và để thiết kế những "cái mẫu" hoặc "mô hình" như vậy thì các "vở kịch" dùng trong nhà trường có thể được coi là một chất liệu vô cùng thích hợp để giúp trẻ em tập dượt khả năng tưởng tượng. Kịch chứa đựng hầu hết những tình huống của đời sống.
"Diễn viên" phải biết cách vào vai người khác, phải đồng thời có khả năng như một đạo diễn, một khán giả hoặc một tập thể khán giả ...Diễn viên không thể thể hiện được tất cả những "cái vắng mặt" đó trong thực tế nếu như không có khả năng tưởng tượng. Xưa nay người ta vẫn hay nói là "phải đặt mình vào địa vị người khác"! Khi đã có khả năng đặt mình vào địa vị người khác thì sẽ không còn vô cảm nữa.
Như đã nói ở trên, vô cảm là trạng thái thờ ơ, lãnh đạm, không nhạy cảm. Vô cảm tự nó không phải là "tội ác". Nhưng vô cảm là một nguyên nhân rất dễ dẫn đến ứng xử tàn nhẫn (có khi là vô tình tàn nhẫn). Giống hệt như dốt thì hay làm liều. Điều này cho thấy là muốn chống vô cảm một cách tích cực và triệt để thì nhà trường phải nuôi dưỡng khả năng tưởng tượng từ bé cho trẻ em.
Trong cuộc sống chúng ta vẫn thường gặp nhiều người lớn có lối sống chan hòa, sẵn sàng giúp đỡ người khác. Những người đó có thể do may mắn mà giữ được khả năng tưởng tượng hồn nhiên của trẻ em. Nhà văn Pháp Saint-Exupéry nói rằng "ai cũng có thời là trẻ con nhưng hiếm có ai nhớ được điều đó" (Hoàng tử bé).
Nhưng nhà trường bằng vai trò được xã hội phân công cụ thể và bằng những phương pháp cụ thể biết cách chủ động nuôi dưỡng và phát triển khả năng tưởng tượng của trẻ em thì cũng đồng thời giúp trẻ em phát triển lành mạnh và gián tiếp cung cấp cho xã hội những công dân lành mạnh. Những người lớn vô cảm thực chất đó là những người đã đánh mất khả năng tưởng tượng.
(Xin mách độc giả một thông tin: Hiện nay, 1 nhóm nghiên cứu giáo dục tư nhân có tên Cánh Buồm đã xây dựng được bộ sách dạy lối sống dựa trên nguyên tắc không giảng giải mà để cho trẻ em tự mình khám phá. Ngày 3 tháng 10 năm 2011 tới đây nhóm sẽ trình diễn tại 24 Tràng Tiền (Trung tâm Văn hóa Pháp) vở kịch "mẫu" có tên "Dế mèn" (dựa trên tiểu thuyết Dế mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài) do các em học sinh trường tiểu học dân lập Nguyễn Văn Huyên trình diễn). Đó cũng là một cách dạy cho trẻ không vô cảm.

Để căn bệnh vô cảm hết đất sống

Để tiêu diệt tận gốc căn bệnh vô cảm thì có lẽ trước tiên từng cá nhân, cộng đồng đều phải nhận thức rõ đó là "chuyện không chỉ của riêng ai" để chung tay hành động.


Vật chất dư thừa nhưng con người trống rỗng
Sau rất nhiều sự việc đau lòng xảy ra gần đây, một vấn đề đã trở nên nhức nhối: Phải chăng người Việt đang ngày càng trở nên vô cảm? Sự vô cảm thể hiện ra là trạng thái dửng dưng, "đèn nhà ai nhà đấy rạng", hay như một cách nói hình tượng là con người bị "rô-bốt hóa", khiến chúng ta hành xử tàn nhẫn, vô tình.
Bản thân vô cảm không phải là tội ác, nhưng nó là con đường rất gần tiến đến tội ác. "Thái độ vô cảm và hành động vô minh sẽ dẫn đến mọi tội ác và đau khổ, dẫn đến không làm chủ được mình..." Tác giả Thái Nam Thắng đã chỉ ra như vậy trong bài viết Một dân tộc biết nói tiếng chim.
Đáng nói là, vô cảm không chỉ còn là câu chuyện cá nhân, mà nó đã dần trở thành "dấu ấn" của một xã hội hiện đại. Như tác giả Kỳ Duyên trong bài viết Sự vô cảm nhân danh đồng loại, đã nhận xét: "Sự vô cảm trong mọi lĩnh vực và ở nhiều tầng lớp xã hội cứ ngày càng tăng thêm, như một thảm họa đạo đức đến đau lòng."
Ở cấp độ cá nhân, đó là sự ích kỷ, hẹp hòi, lạnh lùng của mỗi người trước những bất hạnh của con người, trước những vấn đề xung quanh cần có sự chung tay giúp đỡ, hỗ trợ của cộng đồng. Nhưng ở cấp độ tập thể, đó là một trạng thái không lành mạnh đã "di căn" vào phần đông cái cơ thể "xã hội".
Bỏ mặc người bị nạn không cứu, thậm chí còn xông vào hôi của. Hay những tội ác ghê người xuất phát từ những căn cớ hết sức vụn vặt. Sự đảo lộn của nhiều giá trị đạo đức trong các mối quan hệ vốn được coi là nền tảng xã hội như bố mẹ - con cái, thầy cô - học trò... Nạn đút lót, tham nhũng xảy ra ngày càng phổ biến trên nhiều cấp độ, v.v... Đó là những biểu hiện "muôn hình vạn trạng" của tình trạng vô cảm.
Có một nghịch lý mà hầu hết chúng ta đều thừa nhận: Xã hội ngày nay đã phát triển hơn rất nhiều về vật chất. Các chỉ số dân sinh, kinh tế, hưởng thụ văn hóa, y tế, giáo dục... đều tăng cao rõ rệt so với những thập niên trước. Chất lượng cuộc sống cũng theo đó tăng lên, nhiều người giàu có, trình độ văn hóa được nâng cao ở các cấp, xã hội văn minh hơn... Nhưng vì sao khi xã hội càng văn minh, thì con người lại càng trở nên vô cảm hơn?
Đáng sợ hơn nữa, người trẻ là tương lai của đất nước, thì lại nhiễm bệnh "vô cảm" trầm kha nhất. Không ít người phải giật mình trước lối sống hưởng thụ , chạy theo kim tiền và những giá trị nhất thời của không ít bạn trẻ ngày nay.
Hậu quả của "căn bệnh" này vô cùng nghiêm trọng. Vô cảm với nước với dân thì không bao giờ làm chủ được mình, làm chủ được dân mình, nước mình... "Vô cảm càng "thịnh", có nghĩa là Việt Nam có thể rơi vào bi kịch 1 xã hội bất an trong chính tâm hồn con người". Tác giả Minh Châu nhận định một cách chua xót và đáng lo ngại trong bài viết Càng văn minh càng vô cảm?


Vô cảm không chỉ còn là câu chuyện cá nhân, mà nó đã dần trở thành "dấu ấn" của một xã hội hiện đại. Ảnh minh họa
Bàn tay vô hình nào? Để dẫn đến tình trạng này, thì không ai là vô can, ai cũng có trách nhiệm: Từ người lãnh đạo đến tận thường dân.
Vấn đề quan trọng đặt ra là tại sao sự vô cảm ngày càng trở nên phổ biến? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng đó? Trả lời câu hỏi này hẳn không hề dễ dàng, và cần một cái nhìn toàn diện để có thể soi rọi vào mọi khía cạnh, cả những góc khuất khó lường nhất.
Có không ít ý kiến lý giải vấn đề từ nguyên nhân nền kinh tế thị trường đã tha hóa con người, khiến chúng ta chỉ chạy theo giá trị vật chất mà quên lãng việc củng cố giá trị tinh thần. Tính cộng đồng, sự giúp đỡ lẫn nhau - vốn là truyền thống tốt đẹp của người Việt - không còn phổ biến nữa, mà xen vào đó là sự toan tính, thấy có lợi cho bản thân mới giúp, mới quan tâm hỏi han.
"Nền kinh tế thị trường theo cách ăn xổi ở thì, chụp giựt đã tàn phá văn hóa, đạo đức một cách dễ dàng hơn các quốc gia khác, hơn những nền văn hóa khác. Đó là một thực tế mà chúng ta buộc phải nhìn nhận rằng, chính cái nền văn hóa có quá nhiều hạn chế, đã làm cho sự rạn vỡ của các giá trị xảy ra nhanh hơn, nhiều hệ lụy hơn." Đó là sự lý giải khá xác đáng của tác giả Hà Văn Thịnh trong bài báo Căn bệnh trầm kha nhất của xã hội đương đại.
Tuy nhiên, một số ý kiến lại cho rằng vấn đề không đơn giản nằm ở nền kinh tế thị trường. Thực tế là "có không ít quốc gia, kinh tế thị trường phát triển sớm, nhưng xã hội ổn định, đâu có nhan nhản những chuyện vô cảm đến đau lòng như vậy?", tác giả Kỳ Duyên phản biện.
Vậy phải chăng căn bệnh trầm kha này xuất phát từ một lỗ hổng "cốt tử": Nền giáo dục- trong nhà trường cũng như trong chính mỗi gia đình. "Gia đình là "rường cột" của xã hội, nhà trường là nơi đào tạo "nguyên khí" quốc gia, thì 2 nơi này lại đang mang trong mình bao khuyết tật", tác giả Minh Châu lý giải.
Nhà trường giờ đây không còn là nơi trong sạch để "tiên học lễ, hậu học văn". Mối quan hệ thầy- trò trở nên lung lay hơn bao giờ hết trước những tác động của môi trường, sự xuống cấp đạo đức của một số người thầy, người cô.
Thêm vào đó, nhà trường lại chưa có khả năng - hoặc lơ là việc trang bị cho học sinh một nền tảng- kiến thức và cả tấm lòng, sự nhân ái từ bản năng đến ý thức, để phòng và chống căn bệnh vô cảm.
Chẳng hạn khả năng tưởng tượng - một khả năng giúp trẻ em có thể "nhìn thấy" cái vắng mặt, thậm chí nhìn thấy hậu quả của cái vắng mặt - bản chất của khả năng tự kiềm chế, khả năng tự chủ, như tác giả Phạm Anh Tuấn đã nhìn nhận. Mà nhà trường cứ loay hoay dọn dẹp bằng cách dạy cho con trẻ yêu cái tốt mà quên mất rằng cái chính yếu- căn bản là phải dạy cho chúng ghét cái xấu.
Và số đông ý kiến cho rằng nguyên nhân sâu xa hơn là sự xuống cấp của đạo đức xã hội, các giá trị chân chính bị lung lay. "Nói chính xác, nó là hệ lụy của một xã hội hiện tại khi niềm tin thì ít và lung lay, thực dụng vừa nhiều vừa phổ biến, thói ích kỷ tràn lan và ngày càng tăng".
Vậy nhưng, phải chăng còn có nguyên nhân nào đó căn bản, tác động "khủng khiếp" hơn nằm trong cái "bàn tay vô hình" đang tha hóa chúng ta thành những rô-bốt không tình cảm? Phải chăng như tác giả Kỳ Duyên đã tổng kết: "Lỗi của căn bệnh vô cảm có gốc gác ở ngay chính trong cơ chế quản lý xã hội này, mà giáo dục chỉ là một thành viên góp phần".



Nạn đút lót, tham nhũng xảy ra ngày càng phổ biến trên nhiều cấp độ. Ảnh minh họa
Tìm vắc-xin trị bệnh
Để "tiêu diệt tận gốc" căn bệnh vô cảm thì có lẽ trước tiên từng cá nhân, cộng đồng đều phải nhận thức rõ đó là "chuyện không chỉ của riêng ai" để chung tay hành động. Sự thức tỉnh phải diễn ra trong tất cả chúng ta - để thấy tạo ra sự thay đổi không phải là trách nhiệm của ai đó - mà trước tiên là của chính mình.
Tiếp đó, tùy theo cách lý giải nguyên nhân mà mỗi người lại đề ra những giải pháp khác nhau cho tình trạng này.
Chẳng hạn, nhìn nhận vai trò trọng yếu của giáo dục, nhiều ý kiến đã chỉ ra trách nhiệm của nhà trường trong các vấn đề như nuôi dưỡng khả năng tưởng tượng từ bé cho trẻ em, hay sớm củng cố cho trẻ nền tảng vững chắc để phòng và chống căn bệnh vô cảm.
Cũng có ý kiến lại cho rằng vô cảm là một "căn bệnh tâm lý". Do đó, để chữa trị căn bệnh này thì cách tốt nhất là cách "đánh vào lòng người". "Chúng ta phải làm sao để mọi người đều biết và phải hiểu rõ... [nếu] họ làm điều xấu, họ sẽ bị cô lập, sẽ bị lên án thì họ sẽ không dám làm nữa". Tác giả Toàn Nguyễn trong bài Những con người đang "rô bốt hóa?" hiến kế.
Nhưng cũng đã đến lúc, những giải pháp không thể chỉ nằm ở sự tác động tự nguyện, dùng cái "tình" để sửa chữa cái "vô tình". Người Việt vốn "nổi tiếng" về tính duy tình, nhưng không ít khi đặc tính này tạo ra kẽ hở để sự vô cảm nương nhờ phát triển, và tội lỗi được dễ dàng xuê xoa bỏ qua.
Vậy, "dược phẩm đầu bảng", và không thể thiếu là cần phải tái lập các chế tài nghiêm khắc để lập lại trật tự. "Pháp luật Việt Nam phải có những quy định chế tài cụ thể về những hành vi vô cảm đối với cộng đồng" (Toàn Nguyễn).
Khi chế tài pháp luật đủ mạnh, con người sẽ nhận thức rõ được rằng khi hành động vô cảm, mình không chỉ đang đi ngược đạo lý mà còn vi phạm pháp luật và có thể phải chịu hình phạt thích đáng. Thấy người bị nạn không cứu là vi phạm pháp luật. Hôi của là phạm tội. Dùng bạo lực "tự xử", giết người sẽ phải nhận hình phạt thích đáng,v.v... Chỉ trong một xã hội kỷ cương vững mạnh, con người mới có thể ứng xử theo những tiêu chuẩn cần có.
Đối với tham nhũng - biểu hiện rõ nét và cao độ của căn bệnh vô cảm - phương thuốc này cũng sẽ hết sức hiệu quả. Đó là một loại "vắcxin" không thể thiếu trong cuộc chiến "điều trị" đầy căng go này. Khi chế tài, pháp luật quyết liệt thì buộc xã hội phải trở nên minh bạch hơn, "đất sống" của bệnh tham nhũng cũng ngày càng bị thu hẹp hơn.
Để đạt đến những kết quả mong đợi đó, cần sự chung tay của tất cả. Như quan điểm của tác giả Toàn Nguyễn là: "Nhà nước và nhân dân phải cùng nghĩ, cũng làm, cùng đưa ra biện pháp và cùng khắc phục, giúp đỡ hỗ trợ nhau".
Để đạt đến những kết quả mong đợi đó, cần sự chung tay của tất cả. Như quan điểm của tác giả Toàn Nguyễn là: "Nhà nước và nhân dân phải cùng nghĩ, cũng làm, cùng đưa ra biện pháp và cùng khắc phục, giúp đỡ hỗ trợ nhau"


Bữa tiệc của sự quan tâm

Những ngôn từ đao to búa lớn, rổn rảng ồn ào, đầy toan tính nhưng rỗng về nội hàm tình cảm ngày càng được phát ra nhiều hơn. Cho đến khi người ta có thể nói hay hơn về tình thương yêu để che giấu trái tim vô cảm thì đó là nguy cơ cho đời sống.
Một lần, có dịp vào dự hội thảo tại một trường đại học, tôi thử đếm từ cổng trường vào đến phòng hội thảo, thấy có đến 38 bảng giới thiệu các lớp đào tạo, dạy kèm, các chương trình hoạt động, 17 câu khẩu hiệu (slogan) về phấn đấu giáo dục và kêu gọi hưởng ứng các phong trào hoạt động của sinh viên, chưa kể nội dung các bản tin, bài báo tường chi chít chữ.
Một lần khác, đi ngang cổng một trường trung học lớn ở quận 1, tôi cũng đã làm phép đếm tương tự. Có hàng chục khẩu hiệu, băng rôn, bảng ghi các khẩu hiệu, từ "tiên học lễ, hậu học văn", "kỷ cương, tình thương, trách nhiệm", "thi đua dạy tốt học tốt", "nhất tự vi sư, bán tự vi sư" cho đến "nói không với tệ nạn trong học đường" hay "toàn trường thi đua lập thành tích trong năm học mới"... Các bảng khẩu hiệu đều được thiết kế chữ to, màu sắc nổi bật, giăng trên những vòm cây, lối đi, những vị trí quan trọng nhất trong khuôn viên trường học, chiếm ngự hết cả các bức tường, tạo cảm giác không gian trong sân thường bị bí bức vì bị... chữ đè.
Khẩu hiệu xuất hiện ở khắp nơi, nhiều đến nỗi làm người ta phát ngán, nhất là khi nó che đậy những hiện thực tương phản!
Trong tình hình đời sống hiện nay, chúng ta có dịp giao tiếp, trò chuyện, phát biểu nhiều hơn. Tai chúng ta phải nghe người khác nói nhiều hơn, nhưng có vẻ như hiệu quả sự truyền đạt cũng như sự tiếp nhận thông tin lại không được nâng lên. Chữ nghĩa vây bủa không gian, lời nói lấp đầy mọi khoảng trống, thậm chí, truất hữu cả khả năng quan sát và suy nghĩ, để che đậy một thứ hiện thực bạc màu, những mối quan hệ chứa đầy nguy cơ rạn nứt.
Những ngôn từ đao to búa lớn, rổn rảng ồn ào, đầy toan tính nhưng rỗng về nội hàm tình cảm ngày càng được phát ra nhiều hơn. Cho đến khi người ta có thể nói hay hơn về tình thương yêu để che giấu trái tim vô cảm thì đó là nguy cơ cho đời sống.
Hãy thử đặt mình vào vai một lữ khách đi lạc vào một xứ sở xa lạ, nơi người ta không dùng ngôn từ để giao tiếp, bạn sẽ tự hỏi, bằng cách nào người bản địa "truyền thông" với nhau? Hay ở một tình thế khác tệ hơn: một buổi sáng thức dậy, cả thế giới con người bỗng dưng mất giọng nói, mất khả năng nghe và trống rỗng ký ức về chữ viết, lúc đó người ta sẽ giao tiếp với nhau thế nào?

Trong buổi tiệc Vô ngôn, người ta hạn chế tối đa khả năng sử dụng ngôn từ
Có lẽ năng lực giao tiếp của con người lúc đó là quan sát để nắm bắt thông điệp, tình cảm từ người khác.
Trong hai tình huống giả định này, bạn có thể nghiệm ra rằng, sự quan sát là điều cần thiết trong giao tiếp, hơn cả mọi hình thức ngôn từ. Quan sát là khâu nền tảng, khởi đầu trong quy trình tìm hiểu về thế giới chung quanh. Quan sát đem lại khả năng nhận thức và thông đạt, nhờ đó, phá vỡ những rào cản ngôn ngữ, văn hóa...
Trung tuần tháng 10 vừa qua, ở TPHCM có một hoạt động gây chú ý, đó là bữa "tiệc vô ngôn" (Silent party), quy tụ gần 300 người, nhỏ nhất 2 tuổi, lớn nhất 67 tuổi. Trong buổi tiệc đó, người ta hạn chế tối đa khả năng sử dụng ngôn từ. Họ tắt hết điện thoại, micro, không dùng đến chữ viết, chỉ thông qua quan sát cử chỉ, điệu bộ để "trò chuyện" với nhau. Nhiều người sau 60 phút tham gia buổi gặp gỡ không lời ấy, cho biết họ cảm thấy hạnh phúc vì thoát khỏi thế giới hàng ngày đầy những ngôn từ, lời nói được dùng một cách phung phí, vô tội vạ, để trở về với sự tinh tế nhất trong giao tiếp, và sâu xa hơn nữa là sự thấu cảm tâm tình những người chung quanh thông qua quan sát và ngôn ngữ ký hiệu.
Có người nhận ra, sự vô cảm và giả dối có thể bị đẩy lùi nếu chúng ta không ngừng đánh thức khả năng quan sát và thực sự có nhu cầu hiểu được trạng thái tình cảm, nỗi khổ đau và hạnh phúc của những người sống quanh mình.