Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

Một sự sàng lọc đắt giá (P4) : Bão "suy thoái" càn quét ngành Nông nghiệp

Vỡ nợ cà phê
TT - Hàng loạt doanh nghiệp kinh doanh cà phê tại Đắk Lắk, Đắk Nông đã và đang lâm vào cảnh thua lỗ, nợ nần, thậm chí phá sản. Đã có trên 40 doanh nghiệp - đại lý mua cà phê phải đóng cửa.
Vụ HTX dịch vụ nông nghiệp Minh An phải tính đến chuyện bán thương hiệu cà phê Đức Lập để tồn tại chỉ là một trong nhiều trường hợp thua lỗ.
Trót ký gửi 4 tấn cà phê với giá trị gần 200 triệu đồng cho đại lý Lan Diệu, vợ chồng ông Lộ Văn Quận và bà Huỳnh Thị Yến (Thuận Thành, Thuận An, Đắk Mil, Đắk Nông) như đang ngồi trên lửa vì đại lý vỡ nợ. Ngôi nhà của vợ chồng ông bà cũng đã thế chấp ngân hàng để vay vốn đầu tư sản xuất - Ảnh: Thái Bá Dũng
Theo thống kê của Sở Công thương tỉnh Đắk Lắk, đến thời điểm hiện tại đã có trên 40 doanh nghiệp - đại lý mua cà phê phải đóng cửa. Trong khi đó tại Đắk Nông, nông dân đứng ngồi không yên với tin hàng loạt doanh nghiệp cà phê làm ăn thua lỗ và có thể mất khả năng trả nợ.

Lâm nợ vì mua đắt bán rẻ
Tại huyện Đắk Mil (Đắk Nông) những ngày gần đây, hàng trăm hộ nông dân đã đứng ngồi không yên trước thông tin các doanh nghiệp, đại lý kinh doanh cà phê tại đây có nguy cơ vỡ nợ. Mới đây nhất, ngày 15 và 16-4 hàng chục người dân đã xông vào đại lý mua bán cà phê, phân bón Lan Thông xiết hàng tấn phân bón có trong kho của đại lý này. Trước đó vài ngày, hàng chục người dân đã vây kín đại lý Lan Diệu (thôn Thuận Thành, xã Thuận An) để đòi nợ vì nghi chủ đại lý ôm tiền bỏ trốn. Nhiều người còn yêu cầu công an cho họ xông vào đại lý xiết bất cứ tài sản nào để vớt vát.
Đề xuất khoanh, giãn nợ
Ngày 18-4, ông Hoàng Công Thắng - chủ tịch UBND huyện Đắk Mil (Đắk Nông) - cho biết UBND đã có buổi đối thoại với các đại lý đang nằm trong “nghi vấn vỡ nợ” và nhiều đại lý hứa cam kết trả nợ cho nông dân. Quan điểm của UBND huyện là nếu đại lý đã hứa trả nợ thì người dân nếu không quá khó khăn cũng cần chia sẻ để doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khủng hoảng. Các đại lý chưa kịp giải quyết cho người dân thì UBND huyện có biện pháp hỗ trợ hoặc đề xuất ngân hàng khoanh nợ, giãn nợ, cho vay vốn ưu đãi...
Ông Trác Nhơn Diệu, chủ đại lý Lan Diệu, thừa nhận hiện tổng số nợ của doanh nghiệp này khoảng 2 tỉ đồng ở ngân hàng và 80 tấn cà phê nhân trong dân nhưng vẫn có chỗ khác nợ của doanh nghiệp khoảng 30 tấn cà phê nhân. Tương tự, bà Lê Thị Kiều Nga (có tên khác là Lan), chủ đại lý Lan Thông, cho biết tổng số nợ là 22 tấn cà phê nhân và 1,2 tỉ đồng.
Giải thích về nguyên nhân lâm vào cảnh nợ nần hiện nay, ông Trác Nhơn Diệu cho biết: “Chúng tôi nhận cà phê chốt giá của nông dân và cứ nghĩ giá cà phê sẽ lên cao nữa nên tiếp tục vay vốn ngân hàng với lãi suất cao để tích hàng. Thế nhưng, đột ngột giá cà phê giảm liên tục khi kỳ hạn trả nợ ngân hàng đã đến. Chúng tôi buộc phải bán hết số cà phê có trong kho với giá thấp hơn khi mua (gồm cả cà phê ký gửi của người dân chưa bán) để trả nợ ngân hàng và chấp nhận bù lỗ.
Tuy nhiên khi bán hàng, tài sản để trả nợ thì các ngân hàng thắt chặt tín dụng, không cho vay nữa nên lâm vào bế tắc”. Tương tự, ông Nguyễn Văn Toàn, trưởng ban quản trị HTX dịch vụ nông nghiệp Minh An, cho biết do thấy cà phê đang giá thấp nên dùng hết vốn liếng tích trữ 350 tấn cà phê để mong giá lên sẽ có một khoản lãi lớn. Thế nhưng không ngờ giá cà phê liên tục hạ khiến HTX phải bán hết số cà phê trong kho để trả nợ ngân hàng nhưng sau đó không vay lại được nên mất vốn kinh doanh.
Ngoài cú “ngã ngựa” do không lường trước được việc cà phê rớt giá, ông Toàn còn thừa nhận do thấy thị trường cà phê đang lên giá nên đã vay rất nhiều tiền từ ngân hàng, người dân để đầu tư vào xây dựng nhà xưởng, kho bãi và một nhà máy chế biến cà phê bột. Thế nhưng đến nay do mất vốn, nhà xưởng bỏ không, nhà máy chế biến cà phê bột thì sản xuất cầm chừng... Tương tự, ông Trác Nhơn Diệu cũng dùng cà phê ký gửi, tiền vay lãi của người dân đầu tư vào nhà đất, kinh doanh khác nên khi làm ăn thua lỗ lại không bán được tài sản khiến công việc kinh doanh bị khủng hoảng...
Tình trạng khó khăn cũng xảy ra tại những công ty xuất nhập khẩu lớn như tại Vinacafe Buôn Ma Thuột. Theo ban giám đốc Vinacafe Buôn Ma Thuột, tài sản cố định, bất động sản của công ty còn rất nhiều nhưng số nợ quá hạn cũng rất lớn, lên đến 2.900 tỉ đồng vào cuối năm 2010 và hiện nay là 1.620 tỉ đồng...

Nông dân lãnh đủ
Mới đây, ông Phan Hồng Giang và vợ là bà Nguyễn Thị Kim Huệ phải bán căn nhà cạnh quốc lộ 14, đoạn qua trạm thu phí thị xã Buôn Hồ (phường Thiện An, thị xã Buôn Hồ, Đắk Lắk) để trả ngân hàng do trước đó đã vay cho bà Hà Thị Vui (phường Thiện An) mượn để kinh doanh cà phê, rồi bà Vui tuyên bố vỡ nợ. “Tòa xử 3-4 lần nhưng bà Vui vắng mặt, giờ số tiền 150 triệu đồng không biết đến bao giờ mới lấy lại nên tôi đành phải bán nhà” - ông Giang bức xúc.
Cùng chung tình cảnh với ông Giang, hàng chục người dân khác cũng đã ký gửi cà phê và tiền mặt cho đại lý của bà Hà Thị Vui và giờ cũng đối diện với nguy cơ mất trắng. Không chỉ đại lý của bà Hà Thị Vui mà liên tiếp trong thời gian qua nhiều công ty, đại lý cà phê tại thị xã Buôn Hồ cũng lâm vào cảnh vỡ nợ như Công ty TNHH Chung Đào, Công ty cà phê Tân Trường Nguyên, cơ sở Nguyễn Thị Lan, cơ sở Phạm Thị Loan... khiến khoảng 600 người dân có nguy cơ mất trắng tài sản.
Theo đại diện phòng kinh tế các huyện Buôn Hồ, Krông Năng, Ea H’Leo (Đắk Lắk), khi đại lý, doanh nghiệp cà phê vỡ nợ thì thiệt thòi vẫn thuộc về người dân, bởi hầu hết người dân khi ký gửi cà phê, cho vay tiền mặt đều chỉ có giấy nợ viết tay, thậm chí nhiều người chỉ gửi vì tin nhau là chính. Trung tá Nguyễn Hữu Ngọt - trưởng Công an phường Thiện An - cho biết thời điểm tháng 9-2011 khi tiếp nhận đơn của nhiều hộ dân tố cáo việc bà Hà Thị Vui nợ quá hạn nhưng không trả, công an phường đã xác minh và chuyển hồ sơ đến tòa xử khiếu nại về dân sự chứ không đủ cơ sở để xử lý hình sự. Trong khi đó, hàng chục hộ dân mà bà Vui nợ tiền nay chỉ còn biết... chờ đợi để đòi nợ bà.

Không được bán thương hiệu cà phê Đức Lập
Ngày 19-4, ông Nguyễn Văn Toàn - trưởng ban quản trị HTX dịch vụ nông nghiệp Minh An - cho biết vừa nhận được thông tin của Cục Sở hữu trí tuệ về việc không đồng ý cho HTX Minh An bán thương hiệu cà phê Đức Lập cho nước ngoài.
Theo đó, trong hai nhãn hiệu hàng hóa “Cà phê Đức Lập Minh An & hình” và “Cà phê Đức Lập Đắk Mil & hình” thì HTX Minh An chỉ được toàn quyền bán nhãn hiệu “Cà phê Đức Lập Minh An & hình”. Nhãn hiệu “Cà phê Đức Lập Đắk Mil & hình” do có tên địa danh Đắk Mil (Đắk Nông) không thuộc độc quyền của HTX Minh An. Nếu HTX Minh An bán nhãn hiệu này thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thu hồi giấy phép đăng ký nhãn hiệu hàng hóa đã cấp cho HTX Minh An.
Tuy nhiên, ông Toàn cho biết thêm ông muốn nhượng lại hai nhãn hiệu có tên Đức Lập này cho địa phương mà không lấy bất cứ chi phí nào. Nhưng trong hoàn cảnh khó khăn của HTX hiện tại, rất mong UBND tỉnh xem xét cho vay vốn ưu đãi để tránh việc HTX Minh An phải thanh lý, mất đi thương hiệu nhiều năm gầy dựng chứ không phải là ra điều kiện với địa phương...

Có chăng vỡ nợ ảo ?
Tôi là người ở Daklak. Khu vực sinh sống của tôi có rất nhiều đại lý cà phê. Giữa lúc giá cà phê ổn định nhưng hàng loạt đại lý vẫn tuyên bố phá sản. Nhưng thử hỏi, nếu thua lỗ thì phải phát hiện ra ngay. Đằng này, đùng một cái tuyên bố vỡ nợ và thậm chí không thể trả nổi một đồng cho người dân.
Đại lý nào ít thì vài tỷ, có một số đại lý (hoặc kinh doanh gì đó để lấy mác vay tiền) lên đến 20 - 30 tỷ. Họ làm đủ thứ để người dân tin rằng họ thực sự vỡ nợ. Nào là anh em đóng kịch chửi bới, đánh nhau; nào là bán hết đồ đạc, lao động cực khổ... Tuy nhiên, trong đó vẫn có những người mua đất, cất biệt thự ở Sài Gòn.
Tòa án huyện khi nào cũng ngập tràn đơn kiện của người dân. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao chính quyền chẳng chịu phong tỏa và thu hồi tài sản của họ để trả nợ cho dân. Nếu có cùng lắm chỉ là một vài tài sản không mấy giá trị trong nhà, chẳng bao giờ đá động đến đất đai giá hàng tỷ đồng họ đang đứng tên.

Đại gia thủy sản miền Tây nặng gánh nợ nần

Ngoài Bianfishco, nhiều doanh nghiệp thủy sản khác ở miền Tây cũng bị chủ nợ vây, ngân hàng siết tài sản.

Công ty chế biến thủy sản Minh Hiếu có trụ sở tại thị trấn Giá Rai (Bạc Liêu) vừa bị một nhà băng đến siết nợ hàng hóa ngay trong kho. Bà Lê Thị Hạt, Giám đốc Công ty Minh Hiếu cho biết, đối tác nhập khẩu ở nước ngoài khắt khe nên có nhiều lô tôm nhiễm kháng sinh vượt mức cho phép bị trả về. Công ty làm ăn thua lỗ, càng lún sâu vào nợ nần, mất khả năng trả nợ.
Trước thông tin Minh Hiếu đang nợ 4 ngân hàng khoảng 135 tỷ đồng, bà Hạt nói rằng đang thuê đơn vị kiểm toán xác định tổng tài sản để thương thảo trả nợ bằng tài sản thế chấp. Hiện công ty đã ngưng hoạt động, khoảng 500 công nhân chuyển qua làm việc cho Công ty Minh Hiếu Bạc Liêu (đơn vị có cổ phần của gia đình chồng bà Hạt).
Cuối năm 2011, Doanh nghiệp tư nhân Vạn Hưng do bà Huỳnh Dù Táng làm giám đốc chuyên chế biến thủy sản ở huyện Vĩnh Châu (Sóc Trăng) cũng xảy ra chuyện nông dân nuôi cá đòi nợ. Chủ nợ Phạm Thị Mai (Thốt Nốt, Cần Thơ) đã cho người đến lấy tài sản của doanh nghiệp nên bị cơ quan cảnh sát điều tra Sóc Trăng khởi tố về hành vi “cưỡng đoạt tài sản”.
Sau đó, Phó giám đốc Vạn Hưng là Khưu Chí Thức (29 tuổi, chồng sắp cưới của bà Táng) cũng bị bắt về hành vi “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Liên quan đến vụ án này, Công an Sóc Trăng đang thụ lý hồ sơ của 30 hộ nông dân nuôi cá ở nhiều tỉnh miền Tây tố cáo doanh nghiệp Vạn Hưng chiếm dụng khoảng 20 tỷ đồng.
Một chủ nợ của Vạn Hưng là nông dân Trần Văn Tâm ở ấp Phú Thành, xã Phú Hữu, huyện An Phú (An Giang) cho VnExpress.net biết, gia đình có 6.000 m2 đất đào ao nuôi cá tra. Ông vay 250 triệu đồng từ ngân hàng để nuôi cá, khi bán cho doanh nghiệp Vạn Hưng bị đơn vị này chiếm dụng 238 triệu đồng. Gia đình ông Tâm không đòi được tiền từ Vạn Hưng, phải bán đất đai trả nợ ngân hàng.
Tại khu công nghiệp Trà Nóc 2 ở TP Cần Thơ nơi Công ty cổ phần Thủy sản Bình An của nữ đại gia Phạm Thị Diệu Hiền, còn có một doanh nghiệp khác cũng vướng nợ đầm đìa là Công ty TNHH Xuất nhập khẩu An Khang. Doanh nghiệp này hiện đang nợ 5 ngân hàng khoảng 375 tỷ đồng.
Trong khi đó Công ty Cổ phần Thủy sản Bình An (Bianfishco) đang nợ 1.200 tỷ đồng của nông dân và ngân hàng, cùng nhiều đối tác. Trong số nợ này, riêng tiền mua cá của nông dân là 261 tỷ đồng. Tân Tổng giám đốc Bianfishco Trần Văn Trí cho biết, công ty dự kiến sẽ bán nhà máy với một số tài sản khác để trả nợ.
Trao đổi với báo chí, ông Trần Thiện Hải, Chủ tịch Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết, từ năm 2011 nhiều doanh nghiệp ngành bắt đầu tụt dốc. Tình hình nợ nần bộc phát vào đầu năm nay vì thị trường tiêu thụ gặp khó khăn, lãi suất ngân hàng cao, khiến doanh nghiệp không có khả năng trả nợ. Theo ông Hải, đã có doanh nghiệp thủy sản không trụ được phải phá sản hoặc sáp nhập, bán cho người khác.
"Việc hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn ngay thời điểm này đã quá tầm của VASEP mà cần phải có sự can thiệp từ Chính phủ. Trong đó, điểm mấu chốt là tạo điều kiện cho người nuôi, doanh nghiệp tiếp cận dễ với nguồn vốn nhưng lãi suất phải thấp và ổn định", Chủ tịch VASEP nói.

Khó khăn bủa vây doanh nghiệp xuất khẩu

 Chỉ tiêu xuất khẩu 6,5 tỉ USD năm 2012 là một thách thức không nhỏ đối với ngành thủy sản.

Năm 2011, tổng khối lượng thủy sản xuất khẩu (XK) Việt Nam ước đạt trên 1,5 triệu tấn, chế biến chủ yếu từ nguồn nguyên liệu trong nước, trong đó 70% từ nuôi trồng và 30% từ khai thác tự nhiên. Tuy nhiên, hiện nay chi phí đầu vào cho hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản tăng cao, giá cả bấp bênh và nguồn cung lại khan hiếm. Điều này đã dẫn đến tình trạng thiếu nguyên liệu trầm trọng tại các nhà máy chế biến XK.
Xuất khẩu thủy sản đang ngày càng trở nên khó khăn. Ảnh: Diễn đàn doanh nghiệp
Các số liệu thống kê của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản(VASEP) cũng cho thấy, trong năm 2011, Việt Nam đã phải nhập hơn 500 triệu USD thủy sản để chế biến xuất khẩu. Trong năm nay, chỉ tiêu 2 tỉ USD cho cá tra sẽ cần khoảng 1,3 triệu tấn cá tra nguyên liệu. Tuy nhiên hiện nay sản lượng nuôi đang giảm mạnh và mặt hàng tôm cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự khi một số vùng nuôi đã có dấu hiệu bị bệnh trở lại.
Bên cạnh đó, Phó tổng thư ký VASEP - ông Nguyễn Hoài Nam cho biết chi phí kiểm nghiệm lô hàng trước khi xuất khẩu của doanh nghiệp đã tăng 1,5 - 2 lần so với trước khi Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực (1/7/2011). Chưa kể, quy định và thủ tục kiểm soát trước khi xuất khẩu đã khiến phần lớn các lô hàng phải chờ 7 - 10 ngày, làm giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp (DN).
Ông Nam cũng cho biết, nhiều loại giấy chứng nhận thị trường nhập khẩu không yêu cầu, nhưng cơ quan quản lý vẫn bắt DN đóng phí để nhận giấy. Cùng với đó, việc áp thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì PE để bao gói hàng xuất khẩu cũng là gánh nặng với DN xuất khẩu thủy sản. VASEP ước tính, chi phí tăng thêm từ thuế bảo vệ môi trường với sản phẩm thủy sản xuất khẩu là 0,1 USD một kg.
Hơn nữa, dự kiến, tháng 3/2012, thủy sản Việt Nam sẽ đón tiếp đoàn kiểm tra của Hàn Quốc. Tiếp đó là đoàn thanh tra của Nga (dự kiến vào tháng 4 hoặc tháng 5). Nhật Bản, Trung Quốc và một số nước khác cũng cảnh báo chất lượng thủy sản Việt Nam và có thể sẽ cử đoàn kiểm tra sang.

'Khoảng 20% doanh nghiệp thủy sản sẽ đóng cửa'

Theo Chủ tịch hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy Sản Việt Nam, năm 2012 sẽ là năm đặc biết khó khăn đối với ngành.

“Ngành thủy sản đang ngày càng ít hấp dẫn, năng lực cạnh tranh giảm sút nhiều. Trong năm 2012, khoảng 20% doanh nghiệp thủy sản sẽ đóng cửa” – ông Trần Thiện Hải, Chủ tịch VASEP đánh giá. Theo ông, sự giảm sút năng lực cạnh tranh đến từ việc doanh nghiệp lẫn người dân thiếu nguồn vốn đầu tư, thiếu nguyên liệu đúng chuẩn chế biến, chi phí đầu vào tăng cao, chất lượng con giống giảm sút. Ngoài ra, tình hình khó khăn về tài chính trên thế giới và các nước ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm cũng tạo áp lực cho ngành.
Ảnh minh họa
Ông Dương Ngọc Minh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Hùng Vương cho biết, ngành thủy sản Việt Nam đang bị thắt chặt về tài chính trong khi giá thành lại tăng cao. Theo ông Minh, mục tiêu xuất khẩu 6,5 tỷ USD của ngành thủy sản trong năm nay cần nguồn vốn rất lớn nhưng ngân hàng lại đang giảm cho vay, kế hoạch này sẽ khó thực hiện.
Ông Nguyễn Tuấn Anh – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Chế biến thủy sản Út Xi, việc Nafiqad tăng cường kiểm soát các lô hàng xuất khẩu khiến tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh củadoanh nghiệp. "Xuất khẩu năm nay của công ty chúng tôi đã giảm hơn 50% so với năm 2011 tại thị trường EU. Ngay cả thị trường Nhật Bản cũng đang bị đe dọa. Tất cả đều do vấn đề nhiễm kháng sinh. Nhưng chất kháng sinh đó từ đâu mà có? Chính do Bộ Nông nghiệp cho phép người dân sử dụng trong ao nuôi", ông Anh giải thích.
Về tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết, ngành đang rà soát và đã cấm một số loại kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản Thế nhưng việc kiểm soát kháng sinh từ ngay ao nuôi lại không thể làm được. "Vì hiện có đến hàng triệu hộ nông dân đang nuôi tôm và các loại thủy hải sản khác, mà ngành không có đủ lực lượng để xuống từng ao nuôi kiểm tra. Chính vì thế việc kiểm tra sẽ theo hướng chuỗi và kiểm soát theo hệ thống", ông Phát nói.

Nợ dây chuyền
TT - Nợ đang trở thành một chuỗi dây chuyền trong ngành chế biến và nuôi trồng thủy sản, trong đó chủ yếu là mặt hàng cá tra. Doanh nghiệp nợ dân, dân nợ doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi...
Chuỗi dây chuyền này có nguy cơ đổ vỡ bất kỳ lúc nào.
Nhà máy chế biến cá tra Đại Tây Dương, Cụm công nghiệp Thốt Nốt (Cần Thơ) đã ngưng hoạt động từ năm 2011 đến nay - Ảnh: Đức Vịnh
Thốt Nốt (Cần Thơ) vốn nổi danh là vùng nuôi của những tỉ phú cá tra, thế nhưng giờ đây nhiều trang trại bỏ hoang, hàng loạt ao nuôi đã được san lấp lại, người dân kêu bán đất, bỏ đi tứ xứ mưu sinh.
Bên hai cái ao vừa bỏ trống, ông Hồ Văn Nghĩa (Thới An, An Thuận) kể tháng 7-2011 ông bán 260 tấn cá với giá 23.500 đồng/kg cho Công ty xuất nhập khẩu Việt Ngư (TP Long Xuyên, An Giang) trị giá hơn 6 tỉ đồng. Hợp đồng thanh toán dứt điểm trong 30 ngày, nhưng sau đó doanh nghiệp cứ lần lữa mãi, đến cuối năm rồi chỉ trả được 1,6 tỉ đồng buộc ông khởi kiện ra tòa. Ngày 7-2-2012 bên thi hành án đã có quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng tới nay vẫn chưa thể nào lấy được 4,7 tỉ đồng còn lại.
“Nợ ngân hàng quá hạn, nợ mua thức ăn tổng cộng hơn 3 tỉ đồng, chỉ còn nước bán đất, bán nhà trả nợ. Hàng chục hộ ở các tỉnh bị doanh nghiệp này neo tiền bán cá như vậy” - ông Nghĩa bức xúc.
Công nhân thành thợ gặt
"Lãi suất ngân hàng cao đã là gánh nặng, gần đây lại phát sinh nhiều chi phí trong sản xuất, các khoản phí như cấp phép, kiểm tra chất lượng... Giá điện nước, xăng dầu, bọc nhựa, nilông... tăng đẩy giá thành tăng, càng làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm cá tra"
Mai Thị Ánh Tuyết (giám đốc Sở Công thương An Giang)
Tại Công ty XNK Việt Ngư, những ngày giữa tháng 3 này không còn cảnh công nhân vào ca, tan ca như trước. Trong tuần thỉnh thoảng mới có vài công nhân vào làm. Một số công nhân cho biết nhà máy đã cho phần lớn người lao động nghỉ việc, ngày nào công ty mua được cá mới kêu vài chục người vô làm công nhật, theo kiểu làm ngày nào trả tiền ngày đó.
“Nguyên liệu không có thường xuyên nên thỉnh thoảng mới kêu làm, mà thường chỉ nửa buổi” - một công nhân nói.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một cán bộ của công ty thừa nhận trước kia nhà máy sử dụng 600 lao động, hiện nay chỉ còn chừng 100 người. Ngày nào mua được cá cũng chỉ chừng 30 tấn và công ty thuê 30 -40 công nhân đến làm công nhật. “Không chỉ chúng tôi mà nhiều doanh nghiệp khác đều như vậy. Tình hình khó khăn chung của ngành chế biến xuất khẩu cá tra hiện nay mà” - ông phân trần.
An Giang có 17 doanh nghiệp với 21 nhà máy chế biến xuất khẩu cá tra, hiện nhiều nhà máy đều giảm bớt công nhân, một số nhà máy hầu như... án binh bất động. Tại cụm công nghiệp Mỹ Quý, các bến cảng không còn cảnh ghe tàu neo đậu lên cá tấp nập như trước. Hằng ngày công nhân thường tan ca sớm, những tốp nam nữ tụ lại đánh bài và lai rai ở quán cóc sát vách nhà máy suốt buổi.
Chị Phạm Thị Cẩm Hà, Công ty Ntaco, cho hay từ sau tết tới nay nhà máy chỉ hoạt động cầm chừng. “Tuần qua vô làm hai buổi rồi nghỉ luôn tới giờ, chưa biết chừng nào mới làm lại. Tháng 3 này chỉ làm được chục ngày, nhiều hôm vào làm 4-5 giờ, thu nhập chỉ còn chừng ngoài triệu đồng, làm sao đủ sống đây!” - Hà than thở.
Anh Trần Văn Tuấn, một tổ phó sản xuất của Công ty Ntaco, cho biết trước kia đơn vị này sử dụng 600 lao động, hiện còn chừng 300 người. Tuy vậy gần đây việc làm của công nhân vẫn không ổn định. “Thu nhập giảm sút không đủ đắp đổi nên công nhân các công ty đang có xu hướng bỏ việc hẳn. Nhiều người vừa về quê gặt lúa mướn” - chỉ dãy phòng trọ vắng tanh, anh Tuấn nói.
Anh Trần Công Công, tổ trưởng tổ phi lê ở Công ty TNHH An Xuyên, cho biết từ tết tới giờ nhà máy không làm cá tra mà chỉ làm cá rô phi. Cả nhà máy giờ chỉ còn ngoài 100 công nhân, riêng tổ của anh còn chưa tới 30 người và đều là lao động công nhật.
Tại Cần Thơ, tình cảnh của nhiều doanh nghiệp chế biến cá tra xuất khẩu cũng tương tự. Trên địa bàn quận Thốt Nốt có gần chục nhà máy, sử dụng hơn 6.000 lao động, nhưng giờ đây những dãy nhà trọ đều vắng hoe. “Cứ phải nghỉ việc liên tục, thu nhập không đủ sống, phần lớn công nhân đã bỏ về quê, đi nơi khác tìm việc” - một bà chủ nhà trọ ở Thốt Nốt cho hay.
Chị Nguyễn Thị Thanh, ở Khu công nghiệp Trà Nóc, kể trước đây là công nhân của Công ty An Khang, sau khi doanh nghiệp bị vỡ nợ chị cùng bạn bè xin chuyển qua làm ở vài công ty khác nhưng các đơn vị này cũng chỉ hoạt động cầm chừng. “Thiếu cá chế biến nhà máy phải nghỉ liên tục, hôm nào có đi làm cũng không hết ca. Thu nhập của tụi tôi hưởng theo sản phẩm, không có cá làm nên lương không đủ sống” - chị Thanh nói.
80% giảm công suất
Ông Dương Ngọc Minh - tổng giám đốc Công ty CP Hùng Vương, phó chủ tịch Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP) - cho biết hiện đến 80% doanh nghiệp cá tra giảm công suất chế biến, trong đó nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa.
Riêng Cần Thơ, công suất của 12 nhà máy chế biến cá tra tối thiểu là 1.200 tấn/ngày nhưng hiện sản xuất chưa được 300 tấn/ngày. Cùng với sự đóng cửa của các nhà máy chế biến cá thì các nhà máy chế biến thức ăn thủy sản cũng đóng cửa hàng loạt.
“Hiện có đến 70% nhà máy chế biến thức ăn cho cá gặp khó khăn, trong đó trên 40% là đóng cửa” - ông Minh nói.
Theo Hiệp hội Thủy sản Cần Thơ, người nuôi bỏ nghề hàng loạt làm nguồn cung nguyên liệu thiếu hụt, còn doanh nghiệp đang rất “đói” vốn để mua cá. Trước đó, gặp tình trạng một số doanh nghiệp nợ kéo dài, thậm chí không trả nên gần đây nông dân đòi thanh toán tiền mặt ngay mới chịu bán, khiến các nhà máy đều thiếu cá để chế biến, phải hoạt động cầm chừng.
Mặt khác, ông Lê Chí Bình - phó chủ tịch Hiệp hội Nghề nuôi & chế biến thủy sản An Giang - cho biết trước đó nhiều doanh nghiệp lao vào đầu tư vùng nuôi để chủ động nguồn nguyên liệu, tuy nhiên do thiếu vốn nên không thể triển khai, một số lại xây dựng vùng nuôi quy mô quá lớn, chủ yếu bằng đi vay. “Đã vay ngân hàng rồi nay không thể vay thêm được nữa dẫn tới thiếu vốn lưu động mua cá” - ông Bình giải thích.
Ông Dương Ngọc Minh cũng thừa nhận có hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng khó khăn của ngành cá tra hiện nay, đó là mua cao bán thấp trong năm 2011 và ngân hàng siết chặt tín dụng đầu năm 2012.
Ông Minh giải thích năm 2011 các doanh nghiệp VN khi ký hợp đồng xong thì vướng vào giai đoạn nguyên liệu thiếu hụt, giá mua nguyên liệu cao hơn giá xuất khẩu. Hiện nay, giá thành ngoài dân nuôi lên đến 23.000-24.000 đồng/kg. Do đó, giá mua của doanh nghiệp về đến nhà máy ở mức 27.000-28.000 đồng/kg.
“Các doanh nghiệp “chết” ở điểm này” - ông Minh khẳng định. Nếu tính định mức chế biến cá tra vào Mỹ là 2,5-2,6kg nguyên liệu ra 1kg thành phẩm, cộng chi phí chế biến, nhân công, bao bì thêm 12.000 đồng/kg nên giá thành 1kg thành phẩm là 82.200 đồng, tương đương 3,8-3,9 USD, trong khi giá cá tra xuất khẩu vào Mỹ lúc tốt nhất chỉ 3,4 USD/kg (FOB).
“Chỉ những công ty đầu tư khép kín từ vùng nuôi đến xuất khẩu mới có lời” - ông Minh nói.
Lo ngại dây chuyền
Các chuyên gia thủy sản phân tích điều nguy hiểm nhất đối với ngành cá tra hiện nay là khả năng đổ vỡ dây chuyền nếu như ngân hàng tiếp tục siết vốn vay đối với các doanh nghiệp. Hiện nay doanh nghiệp thì nợ dân, dân nợ nhà máy thức ăn chăn nuôi..., nợ đang trở thành một chuỗi dây chuyền nhưng không được giải quyết.
Trong khi đó, các ngân hàng thận trọng và đang có xu hướng siết vốn của các doanh nghiệp. Không có vốn vay, các doanh nghiệp sẽ không có tiền trả tiền mua cá cho người dân, người dân không có tiền trả cho các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi và tiền tái đầu tư cho vụ mới.
Theo ông Minh, trước đây khi doanh nghiệp có hợp đồng mua cá và nhập kho là ngân hàng cho vay, nhưng nay ngân hàng không cho vay nữa. Nhiều doanh nghiệp đến hạn thanh toán nhưng không có tiền phải đàm phán với người dân sẽ trả theo lãi ngân hàng trong những ngày trả chậm.
“Theo thống kê của chúng tôi, đến thời điểm này chưa đến 5-10% doanh nghiệp thanh toán đúng hạn cho nông dân” - ông Minh cho biết.
VASEP cho hay trường hợp xấu nhất là ngân hàng không cho vay thì doanh nghiệp sẽ kéo dài thời gian chậm trả tiền cá cho người dân. Do đó, người dân sẽ không có tiền nuôi cá vụ mới và không có cá cho chế biến từ cuối năm nay. Điều này đang xảy ra khi giá cá tra giống đã giảm từ 36.000 đồng/kg xuống 28.000 đồng/kg. Một nghịch lý đang xảy ra là giống thiếu (cho nhu cầu chế biến và xuất khẩu với mục tiêu 2 tỉ USD) nhưng giá lại xuống (vì người dân không có tiền đầu tư).
Về thị trường xuất khẩu, theo Vasep, hiện đang tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế, đặc biệt là châu Âu vốn tiêu thụ tới 40% sản phẩm cá tra lại hạn chế nhập; đồng thời một số nước đặt ra rào cản kỹ thuật, tổ chức kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt.
Các doanh nghiệp đang thiếu vốn sản xuất kinh doanh bởi chính sách thắt chặt tín dụng, đã vậy nhà nhập khẩu đòi bán trả chậm nên khó bán được hàng.

Chủ yếu dựa vào vốn vay
Một lãnh đạo ngân hàng cho rằng phần lớn doanh nghiệp thủy sản ở ĐBSCL năng lực tài chính thấp, vốn kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay nhưng sử dụng vốn chưa hiệu quả. Nhiều đơn vị đầu tư tràn lan, sử dụng vốn lưu động đầu tư nuôi cá, đầu tư bất động sản, chứng khoán... nên thiếu vốn sản xuất kinh doanh.
“Để có 30.000 tấn cá nguyên liệu cần đầu tư vùng nuôi 100ha thì cần ít nhất 450 tỉ đồng, với lãi suất 17% thì mỗi năm đóng lãi đã là 76,5 tỉ đồng. Đấy là chưa kể sử dụng vốn vay để đầu tư lĩnh vực khác...” - ông nói.
Để gỡ khó cho ngành cá tra, VASEP đang tiến hành lập danh sách các doanh nghiệp cần hỗ trợ vốn gửi Bộ NN&PTNT đề nghị ngân hàng hỗ trợ. Nguồn vốn này sẽ ưu tiên cho các doanh nghiệp có doanh số xuất khẩu tối thiểu là 20 triệu USD năm 2011, ưu tiên cho những doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu nhưng không có vốn mua.
Sẽ tiễn đưa nhiều doanh nghiệp
Ngay trong buổi lễ mừng ngành thủy sản đạt mốc 6,1 tỉ USD hồi đầu năm nay, ông Trần Văn Lĩnh, tổng giám đốc Công ty Thuận Phước (Đà Nẵng), đã giội một gáo nước lạnh vào không khí hân hoan của nhiều người khi đăng đàn phát biểu: “Trong thời điểm chúng ta đang ăn mừng con số 6,1 tỉ USD này thì cũng có nhiều doanh nghiệp đang đau đớn vì đứng trên bờ vực phá sản. Ngay trong quý 1 và quý 2 năm nay, chúng ta sẽ đau lòng tiễn đưa một vài doanh nghiệp lớn và nhiều doanh nghiệp nhỏ rời cuộc chơi của ngành thủy sản”.
Trong lần gặp mới đây, ông Lĩnh vẫn khẳng định ý kiến của mình khi cho rằng nhìn con số xuất khẩu năm 2011 thì thấy ngành thủy sản tiếp tục tăng trưởng nhưng thực tế lại đang thụt lùi. “Giá trị xuất khẩu năm 2011 của thủy sản tăng chủ yếu là do giá thị trường thế giới tăng. Trong khi giá chung của thế giới tăng 22-25% thì ngành thủy sản VN chỉ tăng 21%” - ông Lĩnh nói.

Từ đám cưới siêu xe đến nợ khó trả nghìn tỷ

Ông Võ Hùng Dũng, Giám đốc VCCI Cần Thơ có bài viết về hệ quả với nông dân và nền kinh tế từ vụ việc của Bianfishco.

Trước khi xảy ra sự việc khá lâu, ở Cần Thơ, nhiều người đã bàn tán câu chuyện nợ nần và sự vung tay quá trán của bà chủ Công ty thủy sản Bình An cùng với những sự kiện đình đám. Bàn tán thì cứ việc nhưng chẳng ai làm gì, thỉnh thoảng đọc báo lại thấy những bài ca ngợi, lãnh đạo cấp trên đến dự lễ lộc khai trương, khánh thành.
Từ lâu, trong ngành thủy sản, không ai không biết đến Bình An chỉ là công ty tầm trung trong ngành xuất khẩu, đứng trước món nợ khổng lồ thì chắc rằng sức khỏe không ổn. Nhưng rồi công ty vẫn được vay thêm nhiều tiền, nợ nông dân thêm vài trăm tỷ đồng, trước khi sự việc bộc lộ hoàn toàn.
Bianfishco nợ nông dân hàng tỷ đồng. Ảnh minh họa.
Bianfishco nợ nông dân hàng nghìn tỷ đồng. Ảnh minh họa.
Trong khi vụ Vinashin vẫn còn chưa hết ám ảnh thì nợ nần ở khu vực tư nhân, khu vực được đánh giá là năng động lại bùng lên. Với món nợ lên đến 260 tỷ đồng, kéo dài hàng năm trời thì số tiền lãi mà công ty này chiếm dụng của những người nuôi cá cũng phải đến trên 50 tỷ đồng. Nếu Bình An kinh doanh bình thường thì ít nhất cũng có số lãi 50 tỷ đồng nhờ chiếm dụng vốn ấy. Nhưng với người nuôi cá thì đó là số tiền đáng ra họ được nhận để trả lãi ngân hàng.
Nhưng Bình An không phải là trường hợp cá biệt. Trong ngành thủy sản có mấy trăm doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, thì hầu như doanh nghiệp nào cũng nợ nần, chiếm dụng vốn của những người nông dân, khác nhau chỉ ở số tiền nhiều ít, thời gian dài ngắn mà thôi.
Những hộ nuôi cá với món nợ lớn hàng nghìn tỷ đồng như vậy sẽ đi về đâu khi doanh nghiệp không trả được? Vấn đề đã vượt qua khỏi mối quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân mà đang có một sự lạm dụng, tận thu của khu vực công nghiệp, thương mại với nông nghiệp.
Không thể coi đây là sự tích lũy công nghiệp bởi sự lạm dụng này không chỉ dành cho đầu tư mà có cả sự lãng phí, chi xài phung phí của tầng lớp giới chủ mới nổi. Đây mới thực sự là vấn đề nghiêm trọng ẩn chức phía sau mỗi quan hệ giữa doanh nghiệp với nông dân. Với mối quan hệ như vậy thì không hề có liên kết mà chỉ có quan hệ một chiều: lợi của bên này là sự mất mát của bên kia.
Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, tồn tại mối quan hệ thiên lệch lợi ích như vậy thì cũng dẫn đến sự suy yếu. Người ta rất dễ yên lòng khi thấy vẫn có tăng trưởng, mặc dù tổn thất, mất mát đã xảy ra. Nhưng tăng trưởng ở mức một đến 2% hay đáng ra có thể tăng trưởng 4-5% là khác nhau, tăng trưởng trong ngắn hạn hay dài hạn cũng hoàn toàn khác nhau. Triết lý quản trị phải là quản trị hiệu quả, chứ không thể là sự đánh đổi.
Không chỉ nợ nông dân, Bình An còn nợ ngân hàng hơn 1.000 tỷ đồng. Số tiền này không phải của bản thân ngân hàng mà của hàng vạn, hàng triệu người gửi tiết kiệm vài để ngân hàng cho vay. Nếu Bình An không trả được thì gánh nặng này trút lên nền kinh tế. Ngân hàng phải cho vay với lãi suất cắt cổ để có lời, để bù đắp những thiệt hại do quản trị yếu kém xảy ra.
Sự phát triển của ngành thủy sản thời gian vừa qua trên ánh hào quang nhưng ẩn trong đó nhiều rủi ro quan trọng, những mất mát cũng rất lớn. Nhưng thủy sản mới chỉ là một phần, còn có nhiều ngành cũng có tình hình tương tự cho thấy bức tranh về nợ nần hết sức phức tạp.
Không ít chủ doanh nghiệp ảo tưởng về tài năng của mình, lạm dụng tiền vay, tiền nợ để tự ban thưởng cho mình nhiều quyền lợi, bổng lộc, ban phát cho người này, người nọ, tiêu xài, mua sắm hoang phí cho mình, cho con cái. Làm từ thiện để đánh bóng hình ảnh trong lúc nợ nần ngập đầu, công nhân không nhận được đủ lương thưởng là hành vi thiếu lương thiện. Đây là những thách thức mới của nền kinh tế khi thiếu những nhà quản trị doanh nghiệp tài ba nhưng lại nhiều nhưng ông chủ, bà chủ quản trị yếu kém mà háo danh.
Không thể đổ lỗi hoàn toàn cho những vấn đề mà Bình An đang gặp vào tình hình kinh tế, lạm phát và lãi suất cao. Đầu tư không hiệu quả, sự dụng vốn lãng phí, chi xài hoang phí là nguyên nhân đưa doanh nghiệp của họ lâm vào khó khăn và tác động trở lại với nền kinh tế.
Trong khi hàng vạn doanh nghiệp nhỏ và vừa khó khăn trong tiếp cận vốn thì khu vực nhà nước và các "đại gia" ở khu vực tư nhân lại dễ dành tiếp cận vốn, vô tư chiếm dụng vốn của người khác. Với những người này thì không thể đổ lỗi cho tình hình kinh tế khó khăn, mà chính họ là một phần của việc tạo ra khó khăn cho nền kinh tế.
Sự kiện Công ty Bình An cho thấy mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nông dân đang bị thách thức nghiêm trọng. Quyết định 80 của Chính phủ về liên kết bốn nhà, đến nay tựa như chiếc áo cũ kỹ, chật chội cần được thay thế. Hai khía cạnh chình cần giải quyết sớm là hợp đồng và tổ chức đại diện.
Với trình độ và năng lực hiện có, nông dân không thể soạn thảo hợp đồng với những tiên liệu đủ sức bảo vệ mình trước sức mạnh của doanh nghiệp. Nông dân, hiện tại cũng không có tổ chức hỗ trợ trong thương lượng hợp đồng và bảo vệ họ. VASEP và VFA là tổ chức của những nhà xuất khẩu. Hội Nông dân, hội Nghề cá là những tổ chức tuy gần mà rất xa.
20 năm qua, khu vực tư nhân đã trải qua nhiều biến động. Từ chỗ bị phân biệt đối xử, hạn chế thành lập, cấp phép hoạt động đến khi được đánh giá là khu vực năng động thì nay cần có một cái nhìn đầy đủ hơn. Tham nhũng, bòn rút của cải xã hội không chỉ xảy ra ở khu vực công mà nay cũng đang tràn lan ở khu vực tư.
Đào tạo để có những lớp doanh nhân tài ba, tâm huyết và có trách nhiệm với quốc gia là công việc rất lớn. Công việc này cần đi đôi với việc cải cách thể chế quản trị cả khu vực công và tư.

Tổng nợ của công ty cổ phần Thủy sản Bình An (Bianfishco) hiện nay khoảng 2.000 tỷ đồng.

Theo báo cáo kiểm toán của công ty TNHH Deloitte, tính đến ngày 31/12/2010, Bianfishco có nợ phải trả hơn 1.393 tỷ đồng, trong đó nợ ngắn hạn 1.221 tỷ đồng; còn vốn chủ sở hữu chỉ là vốn cổ đông 682 tỷ đồng.
Nợ tăng nhiều trong thời gian ngắn, chủ yếu do vay được tiền của các ngân hàng.

Chồng bà Diệu Hiền bán căn nhà ở Kiên Giang để trả cho 12 hộ dân có nợ nhiều nhất.

Ông Trần Văn Trí trả tiền cho cô Nguyễn Minh Thư, nuôi cá ở phường Thuận Hưng (Thốt Nốt, Cần Thơ), bán cá 8,5 tỷ, nay còn bị nợ 3,5 tỷ. Ảnh: Sáu Nghệ.
Ngày 16/4, ông Trần Văn Trí, người nhận ủy quyền điều hành Công ty cổ phần Thủy sản Bình An từ bà Phạm Thị Diệu Hiền, tiếp tục bán một căn nhà riêng ở TP Rạch Giá (Kiên Giang). Căn nhà này trị giá hơn 5 tỷ đồng. Số tiền dùng để trả nợ tiền cá cho 12 hộ nông dân. Đây là những hộ có nợ nhiều và chỉ trả một phần nhỏ bước đầu.
Ở một diễn biến khác, ông Trí cho biết, ngày 14/4, ông đã ký công văn gửi TAND quận Ô Môn và TAND TP Cần Thơ, trình bày quan điểm về những đơn kiện đòi nợ. Ông Trí thông tin: “Công ty Bình An chấp nhận là có nợ tiền, và đương nhiên coi như chấp nhận thua kiện. Mọi sự phán quyết của tòa, Công ty sẽ chấp nhận”.
Theo hai công văn, Công ty Bình An “không thuê luật sư tranh tụng kể cả các phiên tòa sau này”, còn đề nghị các nguyên đơn “mang hồ sơ chứng từ có liên quan đến trực tiếp Phòng kế toán của công ty Bình An đối chiều công nợ để công ty Bình An có kế hoạch trả nợ”. Kế hoạch trả nợ cụ thể sẽ được quyết định sau đại hội cổ đông, kèm “phương án tái cấu trúc hoạt động”. công ty Bình An không chọn giải pháp phá sản.
Trước thông tin trên, luật sư Nguyễn Trường Thành, đại diện cho hai hộ dân kiện đòi nợ (phiên sơ thẩm ngày 16-3 buộc công ty Bình An trả hơn 18 tỷ đồng nhưng có kháng án), cho biết ở phiên phúc thẩm sẽ hạ lãi suất xuống theo mức gửi tiết kiệm (không phải mức vay vốn như án sơ thẩm tuyên) hoặc có thể rút đơn kiện.

Đại gia thủy sản đề nghị 3 phương án xử lý nợ

Tân Tổng giám đốc Công ty cổ phần thủy sản Bình An xin kéo dài thời gian trả nợ ngân hàng thêm 3 năm, tạm ngừng trả nợ gốc trong vòng 24 tháng; đồng thời ngừng phát sinh lãi và trả lãi đến tháng 4/2014.

Công ty cổ phần thủy sản Bình An (Bianfishco) vừa có báo cáo gửi Thủ tướng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục An ninh, lãnh đạo TP Cần Thơ cũng như Ban quản lý khu chế xuất và khu công nghiệp Cần Thơ, trình bày những khó khăn của doanh nghiệp.
Theo đó, ông Trần Văn Trí thừa ủy quyền Tổng giám đốc đề xuất 3 phương án để Bianfishco ổn định lại sản xuất. Trong đó, một là mong muốn UBND TP Cần Thơ đóng vai trò trung gian để một số nhà đầu tư với 2 ngân hàng nhận lãnh trả tiền cá cho các hộ dân, mua nguyên liệu sản xuất vào tháng 4.
Phương án thứ hai là bán tài sản riêng để trả nợ. Số tài sản này có đất đai ở Cần Thơ, Sóc Trăng, TP HCM và cổ phần của công ty. Ông Trí cho biết sẽ bán tài sản để trả 61 tỷ đồng nợ Ngân hàng Á Châu (ACB). Giá trị tài sản đang thế chấp trên 500 tỷ đồng.
Cuối cùng, Bianfishco đề xuất kéo dài thời gian trả nợ ngân hàng thêm 3 năm (đến 1/4/2015); tạm ngừng trả nợ gốc trong vòng 24 tháng; ngừng phát sinh lãi và trả lãi đến tháng 4/2014 cũng như tái cơ cấu các khoản nợ, cung cấp thêm vốn cho công ty đi vào sản xuất ổn định.
Hoãn trả nợ 3 năm là biện pháp quan trọng mà Bianfishco đề xuất. Ảnh: P.T
Hoãn trả nợ 3 năm là biện pháp quan trọng mà Bianfishco đề xuất. Ảnh: P.T
Trao đổi với VnExpress.net chiều 26/3, ông Võ Thành Thống, Phó Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho biết Bianfishco sắp đến thời gian phải đại hội cổ đông nên đề nghị tổ kiểm tra nợ của doanh nghiệp yêu cầu công ty gửi báo cáo năm tài chính 2011. Bên cạnh đó, tổ cần đốc thúc cơ quan kiểm toán hoàn tất báo cáo kiểm toán vào cuối tháng này để giúp Bianfishco đại hội cổ đông theo đúng luật nhằm xác định tư cách pháp nhân của chồng bà Phạm Thị Diệu Hiền (đương chức Tổng giám đốc) là ông Trần Văn Trí để giúp ông này điều hành công ty.
“UBND TP Cần Thơ sẽ làm cầu nối giúp Bianfishco thương thảo, đàm phán với các đối tác và ngân hàng để đầu tư vốn nếu họ thấy đề xuất của doanh nghiệp khả thi. Tuy nhiên, đề xuất liên quan đến việc giãn nợ, ngừng phát sinh lãi... vượt tầm của địa phương. Bianfishco cần phải đề xuất với cấp có thẩm quyền của Trung ương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”, ông Thống nêu quan điểm.
Trong báo cáo này, ông Trí giải trình nguyên nhân khó khăn là do ảnh hưởng tình hình thắt chặt tín dụng cùng lúc Bianfishco đầu tư cho các trung tâm nuôi trồng ở Vĩnh Long, An Giang, nhà máy nước uống Collagen, dây chuyền thiết bị sản xuất, nhà máy giá trị gia tăng, nhà máy phụ phẩm, Viện nghiên cứu, xưởng chế biến thức ăn thủy sản và hoạt động sản xuất...

Các khoản nợ ngân hàng của Bianfishco:

- Ngân hàng An Bình: 63,5 tỷ với 10 triệu USD.
- Ngân hàng Đầu tư phát triển: 139,2 tỷ và 2,6 triệu USD.
- Ngân hàng Việt Thái chi nhánh TP HCM: 3,5 triệu USD.
- Ngân hàng Phát triển chi nhánh Cần Thơ - Hậu Giang: 310,2 tỷ.
- Ngân hàng Habubank chi nhánh TP HCM: 63,9 tỷ.
- Ngân hàng Công thương chi nhánh Cần Thơ: 3 tỷ.
- Ngân hàng Phát triển Nhà chi nhánh Cần Thơ: 20 tỷ.
- Ngân hàng Á Châu: 61,3 tỷ.
- Ngân hàng Xuất khẩu chi nhánh Sài Gòn: gần 24 tỷ đồng với 304.800 USD.
Theo ông Trí, hiện Bianfishco chỉ còn nợ trên 245,1 tỷ đồng của nông dân. Công ty cũng nợ vốn 9 ngân hàng, với tổng số nợ ngoại tệ trên 16,4 triệu USD tương đương 344,8 tỷ đồng. Cộng với nợ nông dân và ngân hàng thì tổng nợ của Bianfishco là hơn 1.275 tỷ đồng.
Trong báo cáo này, Bianfishco cũng thông tin Tổng giám đốc Phạm Thị Diệu Hiền phải ra nước ngoài điều trị chứ không phải trốn nợ. "Thế nhưng một số công ty cùng ngành nghề cạnh tranh không lành mạnh, có ý đồ thôn tính, muốn mua lại nhà máy với giá rẻ càng làm cho Bianfishco càng trở nên khó khăn", theo báo cáo của doanh nghiệp.
“Tương lai của Bianfishco rất khả quan. Nếu được tái cơ cấu lại các khoản nợ, cung cấp thêm vốn để thực hiện những hợp đồng với đối tác nước ngoài thì công ty có thể đạt doanh thu 100-150 triệu USD mỗi năm và trả được các khoản nợ hiện tại”, ông Trí khẳng định.


 Nông dân phá sản: Kêu chẳng thấu vì không biết PR

(VEF.VN) - Hàng triệu lao động, đóng góp cả chục tỷ USD xuất khẩu mà đến khi khó khăn phá sản kêu không thấu, chẳng qua là tại nông dân không biết PR?

Cuối tuần rồi, hàng loạt người dân ở các làng nuôi nghêu ở Thái Bình trở nên điêu đứng khi nghêu chết hàng loạt. Không có thu hoạch, nợ ngân hàng đến kỳ không có trả, nợ nần vật tư, công sá đè nặng lên vai... Cả làng nghêu được một phen điên đảo vì nhưng chẳng biết kêu ai. Ngân hàng đến hạn thì thu nợ, nghêu chết do thời tiết thì địa phương cũng chỉ cử người xuống ghi nhận rồi về ngồi phòng lạnh viết báo cáo. Biết phận mình, người nông dân lại đành gạt mộ hôi, nuốt nước mắt bán tài sản, gán nhà để trả nợ... rồi lạy lục khắp nơi để tìm vốn nuôi trồng vụ mới chỉ với hy vọng trả được món nợ cũ.
Trong khi đó, hàng loạt nông dân trồng cà phê ở Tây Nguyên cũng đang điêu đứng vì bị nợ nần. Số là hàng loạt DN cà phê nơi đây mua cà phê rồi kinh doanh thua lỗ, không thể trả nợ cho nông dân. Thế là "đại gia" cà phê lên ô tô về Thành phố lánh mặt, bỏ lại người nông dân khốn cùng giữa nợ nần ngân hàng, nợ vật tư phân bón và cuộc sống khốn cùng vì không có tiền chi trả... Nông dân nhiều vùng cà phê Tây Nguyên đang điên đảo vì phá nợ nần và đẩy đến bước đường cùng khi không có tiền trang trải cuộc sống và nguồn sống của họ là các rãy cà phê cũng đang chết dần vì không có tiền để mua phân bón, bơm nước chăm sóc.
Trong khi đó, ở Miền Tây Nam bộ, không chỉ có Bianfishco mà hàng loạt DN thu mua và chế biến thủy sản cũng đang gặp khó khăn và các DN chọn cách dễ nhất là xù nợ của nông dân. Người ít thì vài trăm triệu, người nhiều cũng bị DN chiếm dụng vài chục tỷ tiền cá...

Nông dân bán cá có tiền tỷ tưởng là giàu có lắm nhưng đằng sau đó là một khối nợ lớn từ tiền con giống, tiền thức ăn, nhân công, vật tư chăn nuôi... có lấy tiền về, trang trải nợ nần, ngân hàng siết nợ - lãi... May mắn lắm, nông dân mới có khoản tiền lời gọi là lấy công làm lãi. Thế nhưng, nay DN phá sản và trốn nợ, nông dân không còn con đường nào khác là phá sản. DN nợ không trả cho nông dân vẫn ô tô, nhà đẹp, tài sản triệu USD... còn nông dân thì quay quắt trong nợ nần chỉ còn nước bán nhà, bán ao đầm mới thoát được cảnh ra tòa.
Một chuyên gia kinh tế đã chua chát cho biết: Những DN như cà phê, thủy sản vừa qua có phá sản thì các ông chủ chỉ mất tý tiền vốn họ đóng vào công ty cổ phần hay trách nhiệm hữu hạn. Mà chừng đó chẳng thấm vào đâu so với lợi nhuận họ kiếm được từ trước tới nay, so với tài sản ngàn tỷ của họ. Vì thế, nên dù cho DN họ làm chủ có bị phá sản thì họ vẫn đàng hoàng nhà to, xe đẹp, tài sản triệu USD không ai dám đụng đến. Còn người nông dân cả nhà, cả cuộc sống và tương lai dồn vào đồng ruộng, ao cá hay mấy tấn cà phê... mất là mất hết, nợ không trả được thì chỉ có ra tòa. Không bán nhà trả nợ không thể sống nổi với ngân hàng và chủ nợ. Cũng là phá sản nhưng ông chủ chỉ là tai nạn còn nông dân là đòn chí mạng, tàn đời.
Chuyện phá sản trong thời buổi khó khăn nghe ra đã quá nhàm. Ai cũng đứng trước nguy cơ phá sản: Ngân hàng cũng có đến chục ông nguy cơ đỗ vỡ, BĐS thì hàng loạt DN đứng trên bờ vực phá sản vì không bán được hàng, các DN kinh doanh khác khốn khó vì thiếu vốn - khó bán hàng... Khó thì phải kêu và đã rất nhiều tiếng kêu được đáp ứng.
Ngân hàng khó khăn, nhà nước đảm bảo không đổ vỡ, được hỗ trợ để cấp cứu, thậm chí chấp nhận chưa thể giãm lãi suất để lo cho thanh khoản của các ngân hàng. BĐS khó khăn, khó bán hàng... kêu nhiều rồi cũng dần được gỡ. Tín dụng mở ra, đến nay không chỉ dành cho một vài đối tượng mà mở cho cả đầu tư, đầu cơ và cho những dự án hoàn thành sau năm 2012... với mục địch rõ ràng, kích thích để cứu BĐS nhằm gỡ khó cho ngân hàng và các DN.
Sau động thái của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức đã bơm vốn hàng ngàn tỷ đồng để cứu BĐS, thêm vốn cho các DN. Thậm chí, ngân hàng còn giúp DN bằng cách cơ cấu lại nợ, hỗ trợ trả nợ quá hạn... Tất nhiên, trong mối quan hệ đó, mọi thứ đều phải được đảm bảo bằng tài sản và cả hai cùng có lợi nên ai cùng sốt sắng. Vì cứu BĐS là cứu ngân hàng.
Còn nông dân, cứu làm sao khi họ chỉ có tài sản duy nhất là sổ đỏ và căn nhà thì đã cầm cố để vay nợ. Nợ không trả được thì chỉ có nước siết nhà. Hết tài sản thì chẳng có gì để có thể làm tin mà vay vốn làm ăn tiếp. Hết tài sản thì chẳng ngân hàng nào dại mà dây dưa với nông dân đã khánh kiệt. Đã khó khăn lại càng thêm bĩ cực.
Chỉ có điều, trong khi những khó khăn và đỉnh điểm là thảm cảnh điêu đứng và phá sản của nhiều nông dân ở ngay tại những vùng sản xuất và xuất khẩu nông sản lớn nhất đang diễn ra ngày càng nhiều thì cho đến nay từ các địa phương, cho đến các bộ ngành quản lý vẫn chưa có mấy ai lên tiếng về những kế hoạch trợ giúp và phục hồi cho nông dân. Có chăng cũng chỉ là những ghi nhận, báo cáo và sớn nhất là những đề xuất cứu DN rồi từ đó mới có hy vọng cứu nông dân. Với thứ tự ưu tiên như vậy xem ra quá xa vời, vì cứ nhìn Bianfishco thì thấy, dù có được quan tâm nhưng còn lâu nông dân mới được trả hết nợ. Còn dân trồng cà phê thì chưa thấy một lời hứa hay phương hướng nào đề thoát cảnh khốn cùng.
So sánh thì thật là khó, hãy nhìn vào BĐS hay cả ngân hàng, cả một năm qua, trước những khó khăn họ đã kêu ca, vận động rất nhiều mới có được ngày mở cửa, thoát khỏi nguy cơ đổ vỡ, phá sản. BĐS từ phi sản xuất, cấm cho vay rồi được mở dần những nhóm đối tượng nhỏ, sau đó chuyển qua không khuyến khích và cuối cùng là mở cửa cho cả đầu tư và đầu cơ... thế coi như là thoát. Ngân hàng khó khăn, thiếu thanh khoản thì được hỗ trợ, quản trị kém thì được theo dõi chấn chỉnh... cả một lộ trình như thế xem ra nông dân làm sao mà theo được.
Kêu không thấu thì không ai biết, xem ra nông dân cũng nên trách mình trước?!. Cả hàng triệu nông dân, chiếm số đông lao động xã hội với vai trò lớn trong an sinh xã hội, mỗi năm còn đóng góp hàng chục tỷ USD xuất khẩu nông sản mà không biết kêu, không được giúp cũng chỉ tại cái tội không biết PR.


Một sự sàng lọc đắt giá (P3) : Chứng khoán - Thời điểm của đào thải

Công ty chứng khoán nào sẽ bị knock-out?

(VEF.VN) - Mới bước vào đợt tổng kiểm tra và giám sát sức khỏe của UBCK được hơn một tuần, những gương mặt CTCK có khả năng bị knock-out chưa thể nhận diện được nhưng qua những gì diễn ra trong vài năm qua thì rất nhiều công ty đối mặt với nguy cơ này.

Thua lỗ nặng, cụt vốn
Mặc dù các doanh nghiệp đã bước sang quý hoạt động thứ hai của năm 2012 nhưng cho tới thời điểm hiện nay nay vẫn còn khoảng 20 CTCK chưa công bố kết quả kinh doanh năm 2011. Trong số đã công bố (hơn 80 công ty) có quá bán là thua lỗ.
Số liệu từ UBCKNN cho thấy, tới thời điểm này đã có tới 46 CTCK báo cáo hoạt động thua lỗ trong năm vừa qua, trong đó có rất nhiều doanh nghiệp ghi nhận những kỷ lục đáng buồn.
Trường hợp của CTCP Chứng khoán Tầm nhìn (HRS) là một ví dụ. Trong báo cáo tài chính đưa ra trong tuần trước, HRS tiếp tục thua lỗ 9,6 tỷ đồng và đây là năm thứ 5 liên tiếp công ty này đã bị âm vào vốn. Lỗ tổng cộng tính từ 2007 đã lên tới 45,8 tỷ đồng và VCSH hiện chỉ còn hơn 14 tỷ đồng.
Một điều đáng lo ngại là doanh thu của doanh nghiệp này trong những năm gần đây không được cải thiện và ở mức thấp báo động. Năm vừa qua, HRS chỉ thu về 2,7 tỷ đồng. Tính chung cho cả 5 năm, doanh thu cũng chỉ vỏn vẹn 12 tỷ.

Trong năm 2011, HRS đã tăng vốn thêm 15 tỷ (lên 60 tỷ) nhưng xem ra số vốn bỏ thêm này chỉ đủ trang trải cho thua lỗ và bổ sung thêm chút ít vào số tiền còn lại của doanh nghiệp này.
Một "người bạn đồng hành" của HRS là Chứng khoán VIT. Công ty này cũng đã kịp có năm lỗ thứ 5 liên tiếp.
Trong khi đó, 3 đại diện không bi bét bằng HRS và VIT là Vina, KIS và Chứng khoán Navibank cũng đã có 4 năm thua lỗ liên tục.
Theo kết quả kinh doanh 2011 đã kiểm toán, Chứng khoán Navibank (NVS) chỉ đạt doanh thu 17 tỷ đồng và thua lỗ 15 tỷ. Tổng lỗ lũy kế đã lên tới 36 tỷ đồng. NVS thua lỗ trong bối cảnh trong năm 2011 đã nhận được một cú huých về vốn khá mạnh từ một số cá nhân thuộc Saigon Invest Group và vốn điều lệ đã được tăng vọt từ 35,1 tỷ lên 161 tỷ đồng.
Một trường hợp có khả năng thua lỗ 4 năm liên tiếp nữa là HSSC. Công ty này chưa công bố kết quả kinh doanh 2011, song trước đó đã lỗ 3 năm liên tiếp và âm thầm rút khỏi thị trường hồi trước Tết âm lịch. Mặc dù có vốn điều lệ 50 tỷ đồng, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ còn 15,7 tỷ đồng.
Không thuộc diện "cá biệt" như những trường hợp trên, nhưng một loạt các CTCK cũng đã bị đưa vào diện cảnh báo do thua lỗ trong năm vừa qua, như APS (lỗ gần 92 tỷ đồng), Alpha (-7 tỷ), OSC (-4,7 tỷ đồng), VDS (-126 tỷ), HPC (-94,7 tỷ), TLS (-592 tỷ), ORS (-40,9 tỷ), AVS (-40,5 tỷ)...
Trừ TLS có doanh thu tương đối lớn, còn lại các CTCK khác đều rất nhỏ và có nguồn thu rất eo hẹp và không thể bù đắp cho chi phí cũng như sự thua lỗ trong đầu tư chứng khoán và có VCSH đang teo tóp lại rất nhiều so với những gì mà các cổ đông đã bỏ ra trong nhiều năm qua.
Sự tệ hại nằm ở chỗ TTCK vẫn khá nhỏ bé, giao dịch ít và ảm đạm trong khi thống kê cho thấy 10 CTCK lớn nhất (trong số 105 công ty) đã chiếm 80% doanh thu của cả ngành. Trong khi đó, theo những đề xuất ban đầu thì có khả năng UBCK sẽ phải loại bỏ 50% (thậm chí có đề xuất loại 70-80%) số CTCK ra khỏi cuộc chơi nếu không đủ tiêu chuẩn.
Thị phần ít, vốn còn lại không nhiều, hoạt động kinh doanh không có cơ sở vững chắc cho thấy sự tồn tại của nhiều trong số các doanh nghiệp nêu trên là khá lay lắt và có thể chỉ là để nằm chờ cơ hội khác hoặc mong chờ sự may mắn nào đó.
Ngay cả đối với những CTCK lớn và chiếm thị phần không nhỏ thì rủi ro vẫn rất cao. Trường hợp SBS lỗ tới 609 tỷ đồng trong năm 2011, TLS âm 592 tỷ đồng hay SHS -381 tỷ đồng cho thấy một thực trạng đáng lo ngại cho dù các công ty này đang lỗ lực cải tổ và giành giật lại thị phần, cũng như được sự quan tâm, nhòm ngó của nhiều nhà đầu tư lớn.
Như trường hợp SBS, công ty này có vốn điều lệ lên tới gần 1.267 tỷ đồng, nhưng VCSH tính tới cuối 2011 chỉ còn 931 tỷ đồng.
Nguy cơ cụt vốn của các doanh nghiệp lớn này là khó xảy ra nhưng làm gì để bù đắp lại các khoản thâm hụt nói trên là một vấn đề đáng quan tâm. Trong bối cảnh khá nhiều CTCK làm chủ về tài chính đã vượt qua khó khăn và chinh phục được các khách hàng thì tình hình lại càng bi đát hơn đối với các CTCK vốn đã thua lỗ triền miên mà nguồn thu ngày càng co lại.
Mất thanh khoản và thu hẹp hoạt động
Cho dù đã qua thời kỳ khó khăn nhất và TTCK đã hồi phục khá ấn tượng, nhưng một điều đáng buồn là vẫn có những dấu hiệu mất khả năng thanh toán tại CTCK.
Trong một thông báo phát đi trong tuần đầu tháng 4/2012, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD) đã có quyết định cảnh cáo Công ty Cổ phần Chứng khoán Tràng An do liên tiếp vi phạm quy định tại Quy chế hoạt động bù trừ và thanh toán chứng khoán.
VDS yêu cầu Chứng khoán Tràng An tăng cường việc kiểm soát hoạt động giao dịch chứng khoán, đảm bảo tuân thủ các quy định hiện hành để hạn chế sai sót dẫn đến việc tạm thời mất khả năng thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán.
Trước đó, hồi cuối tháng 11/2011 Tràng An cũng đã từng vi phạm lỗi này.

Dẫu rằng, tình trạng mất thanh khoản tạm thời của Tràng An là không nghiêm trọng như SME hồi cuối năm ngoái, nhưng rõ ràng nó vẫn cho thấy một điều là nhiều CTCK hiện vẫn đang rất khó khăn và eo hẹp về đồng vốn.
Sự khó khăn chung cũng đã khiến hàng loạt CTCK tiếp tục thu hẹp mạng lưới hoạt động.
Gần đây nhất, ngày 3/4, UBCK đã ban hành quyết định chấp thuận cho Chứng khoán Phương Đông (ORS) đóng cửa Chi nhánh Đồng Nai và Chứng khoán Dầu khí (PSI) đóng cửa Chi nhánh Hà Nội tại quận Hoàn Kiếm; đóng cửa Chi nhánh Thanh Hoá tại số 38A Đại lộ Lê Lợi, thành phố Thanh Hoá; đóng cửa Chi nhánh Nghệ An tại thành phố Vinh.
Trước đó, Chứng khoán Rồng Việt cũng đã đóng cửa chi nhánh Đà Nẵng, chi nhánh Sài Gòn; SME đóng cửa chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh và chỉ còn hoạt động tại trụ sở chính tại Hà Nội;  Chứng khoán An Phát đóng cửa chi nhánh TP.HCM; Thăng Long đóng cửa chi nhánh Thanh Hóa...
Trải qua một năm đầy sóng gió, các CTCK đang cố gắng tự tái cấu trúc lại hoạt động với một loạt những biện pháp như cắt giảm chi phí hoạt động, giảm nợ xấu, tái cơ cấu hoạt động... Thậm chí nhiều doanh nghiệp đã phải rút nghiệp vụ cơ bản nhất là môi giới như trường hợp HSSC, TSS, SME, Hamico (Gia Anh).
Có thể thấy, rất nhiều CTCK hiện gần như đã mất hút khỏi thị trường như 4 CTCK nói trên và rất nhiều doanh nghiệp hoạt động trong tình trạng gần như không có doanh thu, thua lỗ liên tiếp nhưng cho tới thời điểm này giới đầu tư vẫn chưa thấy một động tĩnh gì liên quan tới việc thanh lọc thị trường.
Việc rà soát lại những mảng tối trong báo cáo tài chính của các CTCK cũng như việc phân loại xếp hạng để qua đó loại bỏ bớt những công ty yếu kém dường như đang được thực hiện rất chậm chạm. Phải chăng đang có một cuộc chạy đua để tránh cửa tử hay vẫn còn nhiều vấn đề khúc mắc trong những vùng tối trong báo cáo tài chính của các CTCK cần được giải quyết trước khi khai tử?

16 công ty chứng khoán lỗ hơn 2.200 tỷ đồng

Tổng lợi nhuận năm 2011 của 26 công ty chứng khoán đang niêm yết là -1.408 tỷ đồng, giảm gần 3.200 tỷ so với năm 2010. SBS là dẫn đầu về mức lỗ còn HSC có lãi lớn nhất.
Với sự suy giảm mạnh của thị trường trong năm 2011, các công ty chứng khoán lại có thêm một năm "ác mộng" như đã từng xảy ra trong năm 2008.

Hiện tại, có 27 công ty chứng khoán đang niêm yết, chiếm ¼ tổng lượng công ty chứng khoán. Kết quả kinh doanh của các công ty này cũng phần nào thể hiện bức tranh chung của toàn ngành.

Tính đến thời điểm thực hiện bài viết này, chỉ duy nhất Chứng khoán SME chưa công bố kết quả kinh doanh Q4 và cả năm. Các số liệu dưới đây chỉ gồm kết quả của 26 công ty còn lại.

Tổng doanh thu của 26 CTCK niêm yết trong năm vừa qua đạt 6.259 tỷ đồng, giảm giảm 2.300 tỷ so với năm 2010.
Lợi nhuận trước thuế cũng giảm 3.200 tỷ  từ 1.758 tỷ xuống -1.408 tỷ đồng.

Mặc dù mang cái tên rất chung chung là "Doanh thu khác" nhưng đây đang là nguồn thu quan trọng nhất của hầu hết các công ty chứng khoán. Nó bao gồm các khoản thu nhập như lãi tiền gửi, cung cấp các dịch vụ cho nhà đầu tư (đòn bẩy...)...

Doanh thu từ cung cấp các dịch vụ liên quan chặt chẽ với hoạt động môi giới đều dựa trên hoạt động giao dịch của khách hàng.

Tổng doanh thu và lợi nhuận của các CTCK niêm yết

Qua biểu đồ trên có thể thấy Doanh thu khác chiếm ½, Doanh thu tự doanh chiếm 1/3, Doanh thu môi giới chiếm 1/10 tổng doanh thu của các CTCK.


Cơ cấu doanh thu năm 2011 của các CTCK niêm yết
Doanh thu môi giới của SSI dẫn đầu với 96 tỷ đồng, đứng thứ 2 là HSC với 91 tỷ đồng và BVS đứng thứ 3 với 65 tỷ đồng.
Trong năm 2011, HSC đã vươn lên đứng thứ 2 về thị phần môi giới tại cả HoSE và HNX. SSI từ thứ 2 lên vị trí dẫn đầu tại HoSE và đứng 7 tại HNX.

So sánh tổng lợi nhuận của các CTCK lãi và tổng lỗ của các CTCK lỗ
Về lợi nhuận, ngoại trừ SME chưa có kết quả kinh doanh, có 10 công ty báo lãi với tổng lợi nhuận trước thuế là 816 tỷ đồng.

Phía ngược lại có 16 công ty báo lỗ với tổng mức lỗ trước thuế là 2.234 tỷ đồng.

Năm 2010, trong số 26 công ty trên chỉ có 4 công ty báo lỗ với tổng mức lỗ 340 tỷ đồng (trong đó riêng KLS lỗ 173 tỷ đồng).

HSC là quán quân lợi nhuận, đạt 237 tỷ đồng, tăng 9 tỷ so với năm 2010.

Ba công ty khác có lợi nhuận trên 100 tỷ gồm KLS (184,5 tỷ), Agriseco (132 tỷ) và SSI (126,6 tỷ).

KLS lãi lớn không gây ngạc nhiên khi công ty đang có khoản tiền mặt khổng lồ đi gửi tiết kiệm (tiền và tương đương tiền đến cuối năm là 1.833 tỷ đồng).
Với SSI, việc đưa 3 công ty Aquatex Bến Tre (ABT), Hùng Vương (HVG) và Pan Pacific (PAN) đã giúp công ty thoát lỗ. Trong khi LNTT của riêng công mẹ là -59 tỷ đồng thì lợi nhuận hợp nhất lại đạt hơn 126 tỷ đồng. Năm 2010, lợi nhuận của SSI đạt 903 tỷ đồng - bỏ xa so với các công ty khác.

Lợi nhuận trước thuế năm 2010-2011 của các CTCK niêm yết
(*) Số liệu năm 2011 của SME tính đến Q3
Phía thua lỗ, với mức lỗ 620 tỷ đồng, Sacombank-SBS không chỉ là quán quân lỗ trong nhóm CTCK mà còn là quán quân lỗ trong số các doanh nghiệp niêm yết.

Dù đạt doanh thu lớn, hơn 953 tỷ đồng nhưng chi phí hoạt động kinh doanh đội lên tới gần 1.500 tỷ đồng. SBS chưa có thuyết minh chi tiết về các chi phí, nhưng chắc chắn chi phí lãi vay chiếm tỷ trọng không nhỏ vì cuối năm 2010 công ty đã vay nợ rất nhiều.

SHS đứng thứ 2 với mức lỗ 382 tỷ đồng. Ba công ty khác lỗ trên 100 tỷ là BSC-Chứng khoán BIDV (-208 tỷ), VNDirect (-206 tỷ) và VDS-Chứng khoán Rồng Việt (-126 tỷ).

Tại thời điểm cuối năm 2011, tổng giá trị đầu tư tài chính của 26 CTCK chỉ còn hơn 14.600 tỷ đồng, giảm gần 10.000 tỷ so với cuối năm 2010.

Số dự phòng giảm giá cũng tăng thêm hơn 1.400 tỷ đồng.

Hầu hết những công ty lỗ lớn là những công ty có tỷ trọng hoạt động tự doanh lớn, phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán nhiều. Vì vậy, nếu thị trường tốt lên trong năm 2012 thì có thể hoàn nhập dự phòng và có lãi lớn.

Có 3 công ty đã lỗ liên tiếp 2 năm 2010-2011 là Chứng khoán Bảo Việt (BVS), Chứng khoán Hải Phòng (HPC) và Chứng khoán Sao Việt (SVS).

Nếu tiếp tục lỗ trong năm nay thì các công ty sẽ rơi vào diện bị hủy niêm yết bắt buộc.

'Thuốc bổ' không cứu nổi đại gia chứng khoán

(VEF.VN) - TTCK đã bừng tỉnh rất ấn tượng trong 3 tháng đầu năm 2012. Nhiều CTCK, quỹ đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư cổ phiếu, các "tay chơi" lớn trên thị trường... đã hồi sức ngoài mong đợi. Tuy nhiên, với sự tàn phá khủng khiếp trong các năm trước, dường như liều thuốc bổ này cứu nổi sự bi bét của các đại gia này.
Ốm dậy sợ gió
Sau nhiều ngày tăng mạnh, các cổ phiếu đã bị bán tháo khá mạnh và đã xuất hiện những đợt giảm giá sau khi có tin đồn về việc cơ quản quản lý Nhà nước có thể sắp có đợt thanh tra hoạt động giao dịch ký quỹ tại tất cả các CTCK  nhằm đảm bảo hoạt động này tuân thủ đúng các quy định hiện hành.
Theo quy định đã được ban hành, các CTCK không được phép cung cấp tỷ lệ ký quỹ trên 40% và không được phép cho vay ký quỹ trên 5% vốn hóa của một công ty. Chỉ có cổ phiếu của một số công ty nhất định được phép cho vay ký quỹ và cũng chỉ một số CTCK đáp ứng các hệ số an toàn mới được cấp phép cung cấp dịch vụ ký quỹ cho khách hàng.
Trong khi các CTCK lớn thường tuân thủ luật một cách thận trọng thì các CTCK nhỏ có lẽ sẽ lỏng lẻo hơn trong việc cho vay ký quỹ. Theo đó, có lẽ các nhà đầu tư đã nhân tin đồn này để rút khỏi thị trường trong phiên hai hôm nay và các CTCK cũng có thể giảm cho vay ký quỹ nhằm đảm bảo tuân thủ các quy định - vốn là vấn đề sống còn của các CTCK trong những tháng tới.
Theo CTCK HSC, trên thực tế, không khó để nhận thấy rằng các nhà đầu tư có thể giao dịch với tỷ lệ đòn bẩy cao hơn so với mức được Ủy ban Chứng  khoán công bố. Phần đông nhà đầu tư cho rằng nếu việc  kiểm soát này được thực hiện, sức cầu trên thị trường sẽ giảm sút trong ngắn hạn trong khi áp lực cung sẽ gia tăng.

Hiện tượng bán mạnh trong đợt này cho thấy một điều là mặc dù thị trường vẫn đang xu hướng uptrend trung và dài hạn nhưng nhiều cổ phiếu xấu trên thực tế đã có dấu hiệu vào vùng quá mua và việc chốt lời là đảm bảo an toàn.
Chưa biết đợt phục hồi này thị trường sẽ chinh phục lại về tới các đỉnh cao nào, nhưng một thực tế không chối cãi là vẫn có nhiều doanh nghiệp đang quá trình ngoi lên khỏi bùn đen chứ chưa thể thăng hoa được. Việc doanh nghiệp kém nhưng giá tăng vù vù cả vài chục phiên gần đây thì việc nắm giữ là mạo hiểm.
Hàng loạt mã cổ phiếu nóng của các doanh nghiệp đã từng lún sâu vào chứng khoán đã quay đầu giảm điểm rất mạnh cho dù kỳ vọng "đổi đời" của nhiều nhà đầu tư đặt vào đây là khá lớn.
Cổ phiếu SAM sau 4 phiên tăng trần, chiều 27/3 đã quay đầu giảm sàn và trong phiên giao dịch 28/3 vẫn đang chấp chơi chưa lấy lại được đà. Kỳ vọng vào sự phục hồi của SAM là rất lớn bởi một nguồn tiền không nhỏ được SAM đầu tư vào cổ phiếu trước đó. TTCK hồi phục thì khoản hoàn nhập dự phòng của SAM chắc chắn là sẽ lớn và lợi nhuận quý I/2012 có thể là đột biến.
Một loạt cổ phiếu chứng khoán vốn được săn lùng ráo riết ở mọi mức giá trần trong nhiều tuần gần đây đã quay đầu giảm sàn trong phiên 27/3 và sáng 28/3 như WSS, BSI, PSI, ORS, AGR, AVS... Tới cuối phiên, thị trường đã quay đầu tăng trở lại nhưng vẫn còn một số mã chứng khoán giảm mạnh hoặc sàn như WSS, BSI, PSI, AGR, AVS...
Các mã tài chính và liên quan tới tài chính khác như PVF, PF1, VF1, VF4... đều rung lắc rất mạnh và nhiều mã tới cuối phiên 28/3 vẫn giảm giá.
"Tay chơi" chứng khoán: Vẫn còn khó khăn
Không nói đến xu hướng đi lên chung của thị trường (trong đó có nhiều doanh nghiệp vốn vẫn đang làm ăn tốt và giá cổ phiếu đang thấp), nhiều đại gia chứng khoán như nhiều CTCK, quỹ đầu tư, doanh nghiệp đầu tư cổ phiếu... có lẽ chưa thể hồi sức được ngay. Hậu quả thâm hụt vốn trong những năm trước đây chắc chắn là rào cản lớn cho sự ổn định trở lại.
Thống kê cho thấy, năm 2011 toàn thị trường có 65 CTCK thua lỗ, 71 CTCK có lỗ quỹ kế và 24 công ty quản lý quỹ lỗ lũy kế...
Trong đó, có rất nhiều CTCK và các doanh nghiệp đầu tư tài chính lỗ lớn trong năm 2011 như: TLS (lỗ 592 tỷ đồng, VCSH thấp hơn vốn đầu tư của cổ đông), SBS (lỗ 609 tỷ đồng, VCSH còn 931 tỷ đồng), SAM (lỗ 183 tỷ đồng), SHS (lỗ 381 tỷ đồng)...

Một số CTCK lỗ 2-3 trong 4 năm gần đây như BSI, HPC, TAS, APG, APS, VDS...
Thậm chí còn nhiều CTCK mất thanh khoản hoặc/và rút khỏi những nghiệp vụ chính như SME, HSSC, Trường Sơn, Hamico (Gia Anh)...

Rõ ràng, trong đợt tăng nóng theo những chuyển biến tích cực của các chỉ số kinh tế vĩ mô vừa qua, TTCK đã đồng loạt đi lên. Nó đồng nghĩa với việc rất có thể có nhiều cổ phiếu đã vượt quá những chuyển biến tích cực nội tại của mình.
Hiện tại, thị trường đang có xu hướng bước sang giai đoạn phân hóa rõ ràng hơn giữa các cổ phiếu tốt và xấu.
Và một điểm đang được giới đầu tư quan tâm là thông tin rằng Ủy ban Chứng  khoán có thể sẽ kiểm soát chặt chẽ hơn đối với việc giao dịch ký quỹ của các nhà đầu tư tại các CTCK và quá trình tái cấu trúc khối doanh nghiệp này.
Ảnh hưởng của kiểm soát giao dịch ký quý đã ngay lập tức tác động tới thị trường trong hai phiên vừa qua. Trong khi đó, đề án tái cấu trúc CTCK nhiều khả năng cũng sẽ làm giảm hưng phấn đối với các cổ phiếu chứng khoán - vốn thường tăng rất nóng nhưng nguội cung nhanh.
Theo đề án tái cấu trúc, từ tháng 4/2012, UBCK sẽ mạnh tay hơn trong việc kiểm soát và phân loại CTCK. UBCK cũng đã lập kế hoạch đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động đối với các CTCK không khắc phục được tình trạng kiểm soát (vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 150% tới trên 120% và có lỗ luỹ kế từ 30-50% vốn điều lệ) hay kiểm soát đặc biệt (vốn khả dụng/tổng rủi ro dưới 120% và có lỗ luỹ kế trên 50% vốn điều lệ).
Tình trạng lỗ lũy kế và tỷ lệ an toàn tại các CTCK có lẽ sẽ tích cực hơn trong quý I/2012 nhưng có lẽ cải thiện được bao nhiêu mới là vấn đề quan trọng.
Các thông tin như hiện tại các CTCK đang nắm giữ bao nhiêu cổ phiếu, ở nhóm nào, mã nào và sự hồi phục của thị trường trong vài tháng vừa qua đã giúp họ hoàn nhập dự phòng được bao nhiêu... thì hầu hết các nhà đầu tư đều không biết.
Thông tin này, có lẽ chỉ nội bộ các CTCK mới nắm được. Trong khi đó, cái mà nhiều nhà đầu tư có thể đã quên là nhiều CTCK lỗ rất lớn trong vài năm qua. Có công ty lỗ 2-3 trong 4 năm gần nhất và chung quy lại là đang thâm vào vốn.
Theo đề án tái cấu trúc, xu hướng giảm bớt số lượng CTCK là tất yếu. Con số CTCK phải sáp nhập hay giải thể cho tới thời điểm này chưa thể xác định. Nhưng theo nhiều đề xuất thì có lẽ tới cuối 2012 thị trường chỉ còn lại khoảng một nửa (thậm chí ¼) so với hiện tại là hơn 100 CTCK. Câu hỏi được đặt ra là, khi đó cổ đông các CTCK sẽ đi về đâu?
Rõ ràng, đây là một rủi ro khá lớn trong khi lực mua đối với các cổ phiếu này vẫn đang rất mạnh.
Kỳ vọng về một năm bớt khó khăn hơn với vĩ mô đang được cải thiện từng ngày có thể khiến TTCK tiếp tục đi lên vững chắc trong thời gian tới. Dẫu vậy, đó là với những cổ phiếu của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng nặng nề bởi chứng khoán trong thời gian qua. Các doanh nghiệp thua lỗ nặng do đầu tư tài chính trong các năm trước có thể sẽ hồi sức nhanh trong giai đoạn đầu khi TTCK quay đầu tăng trở lại nhưng sẽ cần nhiều thời gian để lấy lại tất cả những gì đã mất trước đó.

Những CTCK bỏ trốn khỏi thị trường

(VEF.VN) - Không hoạt động tại trụ sở chính, điện thoại không có người trả lời, website không hoạt động, một số công ty chứng khoán (CTCK) gần như biến mất khỏi thị trường.
Không hoạt động tại trụ sở chính, điện thoại không có người trả lời, website không hoạt động, một số CTCK gần như biến mất khỏi thị trường. Chưa cần tới cơ quan chức năng, một làn sóng tự đào thải trong lĩnh vực này dường như đang xuất hiện.
Mất bóng
Vẫn còn biển hiệu ngoài trụ sở chính, một số người quan tâm tới tình hình sống-còn của các CTCK thật bất ngờ khi không thấy một bóng dáng nhân viên của CTCK Hà Nội (HSSC) tại tầng 3, Toà nhà Trung tâm Thương mại Opera - 60 Lý Thái Tổ - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội.
Văn phòng khóa chặt cho dù đây vốn dĩ vẫn đang là trụ sở chính của công ty này.
Điện thoại tới hai số máy của công ty vẫn đổ chuông bình thường nhưng không có người trả lời. Website cũng không thể truy cập.


Dò hỏi hồi lâu mới biết CTCK này đã chuyển đi được khoảng tháng nay, tới Tòa nhà 141 Lê Duẩn, Hà Nội - một sự di chuyển có vẻ rất âm thầm bởi cho tới thời điểm này chưa thấy thông tin về việc chuyển địa điểm của HSSC.
Trên thực tế, hầu hết các nhà đầu tư đều biết Chứng khoán Hà Nội và một số CTCK khác đã ngừng giao dịch từ lâu khi đóng hầu hết các nghiệp vụ (bao gồm cả môi giới) và chuyển khách hàng cho đơn vị khác.
Thời điểm giáp Tết Nguyên đán, sau khi HSSC quyết định dừng nghiệp vụ môi giới (kể từ 9/12/2011), đa số khách hàng đã tới tất khoản tài khoản tại công ty. Những khách hàng không đến tất toán được chuyển tài khoản sáng CTCK Thiên Việt.
Sở GDCK Hà Nội cũng đã ngừng hoạt động giao dịch của HSSC theo đề nghị của công ty này để hoàn tất thủ tục chấm dứt tư cách thành viên trên cả thị trường niêm yết và thị trường UPCoM kể từ ngày 17/02/2012.
Mặc dù vậy, với nhiều nhà đầu tư, cho tới thời điểm này họ vẫn còn cảm thấy khá sốc khi mà một thời đã gửi cả trăm triệu, thậm chí vài tỉ tại các CTCK đang dần dần mất bóng trên thị trường.
Tự đào thải
Không chỉ HSSC, TTCK trong thời gian vừa qua đã chứng kiến sự khó khăn kiệt quệ của rất nhiều CTCK.
Gần đây và điển hình nhất là trường hợp Công ty Chứng khoán SME với việc liên tiếp bị đình chỉ hoạt động giao dịch, đình chỉ hoạt động thanh toán bù trừ và mới nhất là bị thu hồi giấy chứng nhận hoạt động lưu ký và ngừng hoạt động giao dịch tại HOSE kể từ 10/2/2012 (để hoàn tất thủ tục chấm dứt tư cách thành viên) sau khi liên tục vi phạm các quy định và mất khả năng thanh toán.
SME cũng đã thông qua việc tạm dừng nghiệp vụ môi giới và đóng cửa chi nhánh TP.HCM.
Cũng trong khoảng thời gian này, HOSE thông báo ngừng hoạt động giao dịch của Công ty cổ phần chứng khoán Đông Dương (DDS) để hoàn tất các thủ tục chấm dứt tư cách thành viên.


Trước đó, một số CTCK khác như Gia Anh và Trường Sơn cũng đã xin rút nghiệp vụ môi giới.
Hiện tượng đóng cửa hàng loạt các chi nhánh, phòng giao dịch, sa thải nhân viên và chuyển trụ sở từ nơi hoành trang sang khu vực không trung tâm và nhỏ gọn hơn thì phổ biến, xảy ra đối với cả CTCK lớn và nhỏ và trong thời gian rất dài vừa qua.
Trong một thông báo phát đi trước Tết, Công ty Chứng khoán Mê Kông đã thông báo chuyển trụ sở chính từ Quận 1, TP.HCM ra đóng tại chi nhánh tại Ngô Quyền, Hà Nội. Với quyết định này, Mê Kông đóng cửa cùng lúc 2 chi nhánh, một tại TP.HCM, một tại Hà Nội và một phòng giao dịch.
Trên thực tế, sự suy sụp của một bộ phận không nhỏ các CTCK đã được dự báo từ trước.
Trước hết, nó xuất phát từ việc cho ra đời quá nhiều CTCK (hơn 100) trong một thị trường được đánh giá là khá nhỏ bé, chưa có nhiều hàng hóa và dịch vụ chất lượng.
Trong thời kỳ sôi động, các CTCK đã được khai sinh như nấm sau mưa. Một khoản tiền lớn đã được đưa ra để mua sắm thiết bị, phần mềm, thuê mặt bằng, nhân viên lương cao... Khi đó, nhiều công ty dù có rất ít khách hàng nhưng vẫn có thể tồn tại nhờ vào việc kinh doanh chứng khoán với giá cổ phiếu tăng lên từng ngày.
Nhưng tới thời kỳ thị trường đi xuống kéo dài và thậm tệ như trong vài năm qua thì thua lỗ gần như là đương nhiên bởi khoản thu chưa bù đắp được chi, trong khi còn gánh một khoản lỗ do tự doanh, do cho vay cầm cố, margin...
Liên tiếp trong nhiều quý và năm tài chính vừa qua, các CTCK đưa ra những bản báo cáo tài chính gây thất vọng rất lớn. Một điểm thường thấy trong báo cáo của các doanh nghiệp này gần đây là các khoản lỗ lên tới vài chục tỷ, thậm chí vài trăm tỷ, tùy theo mức độ lớn nhỏ của công ty.
Riêng đối với trường hợp HSSC, dù số vốn góp vào ban đầu không nhiều với vốn điều lệ là 50 tỷ đồng nhưng tỷ lệ thua lỗ cũng khá cao.
Số liệu mới nhất chưa có, nhưng đến cuối năm 2010, HSSC thông báo vốn chủ sở hữu chỉ còn 15,7 tỷ đồng! Với việc lỗ liên tiếp 3 năm 2008-2009-2010 thì tổng lỗ lũy kế của công ty đã lên tới 34,4 tỷ đồng.
Một số trường hợp khác có lẽ còn tồi tệ hơn.
Thứ hai, trong suốt một thời gian dài vừa qua, nhiều CTCK đã không tạo được niềm tin trong con mắt của các nhà đầu tư.
Nhiều nhà đầu tư cho biết, các CTCK đã làm mưa làm gió, chi phối thị trường trong một thời gian dài bằng những thủ đoạn như đội lái, đánh lên đánh xuống, hợp tác đầu tư... Chính những cái này đang quay lại làm hại các CTCK. Việc gieo gió ắt gặp bão.
Trên thực tế, việc đánh lên, đánh xuống... tại các CTCK chỉ là tin truyền tai bởi hầu hết các trường hợp làm giá đều không được phát hiện. Vi phạm của các CTCK thường được phát hiện có chăng chỉ là những hành vi như vi phạm công thông tin và gần đây là hiện tượng nhập nhèm tiền gửi khách hàng.
Hơn nữa, khoản phạt cho các hành vi này dường như cũng chưa có khả năng răn đe.
Khi thị trường đi xuống, nhà đầu tư mất niềm tin vào cổ phiếu vào CTCK và rút tiền ra cũng là lúc các thành viên của thị trường không còn hoặc còn ít đất sống. Hiện tượng tự đào thải, theo đó giúp làm giảm bớt những CTCK yếu kém, có thể sớm xảy ra, đặc biệt trong bối cảnh nhiều tập đoàn, tổng công ty Nhà nước trước góp vốn vào đây có thể phải rút ra.

Hai công ty chứng khoán ngừng giao dịch

(VEF.VN) - Công ty chứng khoán Hà Nội và Công ty chứng khoán SME gần như đã ngừng giao dịch khi đóng hầu hết các nghiệp vụ và bắt đầu chuyển khách hàng cho đơn vị khác.
Sở GDCK Hà Nội vừa ngừng hoạt động giao dịch của Công ty cổ phần chứng khoán Hà Nội (HSSC) theo đề nghị của công ty để hoàn tất thủ tục chấm dứt tư cách thành viên của công ty này.
Theo đó, từ ngày 17/02/2012, HSSC sẽ ngừng giao dịch trên cả thị trường niêm yết và thị trường UPCoM.
Đến cuối năm 2010, HSSC có vốn điều lệ 50 tỷ đồng, nhưng vốn chủ sở hữu chỉ còn 15,7 tỷ đồng. Với việc lỗ liên tiếp 3 năm 2008-2009-2010 thì tổng lỗ lũy kế của công ty  là 34,4 tỷ đồng.
Vài ngày trước đó, Công ty Chứng khoán SME (HNX: SME) công bố thông tin bất thường về việc tạm dừng hoạt động môi giới, đóng cửa chi nhánh TPHCM và ngừng hoạt động lưu ký chứng khoán.
Theo đó, SME tạm dừng nghiệp vụ môi giới chứng khoán từ 01/03 đến hết ngày 31/08; đồng thời, đóng cửa chi nhánh tại TPHCM.
SME cũng đã nhận được quyết định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng khoán.
Theo đó, SME sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư hoàn tất tài khoản và chuyển khoản chứng khoán sang công ty chứng khoán khác từ ngày 08/02.
Kể từ ngày 08/02/2012, Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD) thông báo ngừng cung cấp toàn bộ dịch vụ liên quan đến hoạt động đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ cho CTCP Chứng khoán SME (HNX: SME), trừ trường hợp chuyển khoản tất toán của khách hàng sang thành viên lưu ký khác.
Trong vòng 10 ngày làm việc (từ ngày 09/02 đến hết ngày 22/02/2012), VSD sẽ thực hiện chuyển khoản tất toán tài khoản cho người đầu tư mở tài khoản tại SME sang thành viên lưu ký khác theo yêu cầu.
Trước hai DN này có một số công ty như CTCK Gia Anh, CTCK Đông Đương, CTCK Hà Nội và CTCK Trường Sơn đã xin rút nghiệp vụ môi giới.
Ông Phạm Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Quản lý kinh doanh, UBCK, cho biết, định hướng của UBCK trong quá trình tái cấu trúc các CTCK cũng là khuyến khích các CTCK tự nguyện từ bỏ những nghiệp vụ mà đối với họ không có hiệu quả kinh tế.

Công ty CK 'còi': Làm gì để tồn tại?

(VEF.VN) - Các công ty chứng khoán nhỏ có cách nào để tồn tại trong điều kiện chứng khoán khó khăn. Thử làm vài phép tính về tài chính để xác định khả năng tồn tại (có lãi) của CTCK.

LTS: Trong bối cảnh các thị trường nghiệt ngã, các công ty chứng khoán đang dần bị sàng lọc, vậy làm thế nào để CTCK nhỏ có thể tồn tại được? Bài viết dưới đây của tác giả Việt Thắng như lời gợi ý để các công ty tham khảo hướng đi cho mình. Mời độc giả cùng tham gia tranh luận và đóng góp ý kiến. Trân trọng cảm ơn.
Tình hình kinh tế vĩ của Việt Nam trong những năm vừa qua đều trong tình trạng kém ổn định. TTCK Việt Nam cũng bị tác động không nhỏ bởi tình hình chung này. Bên cạnh đó, sự yếu kém trong công tác quản lý thị trường và tính bất cập của các giải pháp phát triển thị trường cũng góp phần làm cho quá trình lao dốc diễn ra kéo dài.
Trong tình hình hiện nay, việc tái cơ cấu lại các CTCK đang đặt ra là một vấn đề cấp thiết. Do đó, việc xem xét và đánh giá khả năng tồn tại (có lãi) về mặt tài chính của CTCK được đặt ra hàng đầu trong quá trình tái cơ cấu.
Ở đây, tôi đưa ra phân tích trường hợp điển hình đối với các CTCK có vốn chủ sở hữu từ 135 tỷ trở xuống, CBNV 50 người và có trụ sở ở Hà Nội và 1 chi nhánh ở TP.HCM hoặc ngược lại. Các khía cạnh phân tích dựa trên tính toán về doanh thu và chi phí điển hình phổ biến của các công ty chứng khoán chung theo tình hình báo cáo trong những năm vừa qua.
Về doanh thu: Các CTCK hiện có các nguồn thu theo ngành nghề kinh doanh gồm: Môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư chứng khoán và các khoản doanh thu khác (dịch vụ tài chính).

1. Doanh thu từ hoạt động môi giới: Với quy mô giao dịch của TTCK hiện tại cả HSX và HNX hiện nay đều dưới 500 tỷ đồng/phiên. Nếu mức phí giao dịch bình quân là 0,2% thì tổng phí giao dịch một phiên của toàn thị trường khoảng 4 tỷ đồng, tương đương với tổng doanh thu môi giới cả năm của toàn thị khoảng 1.000 tỷ đồng (số phiên GD trong năm khoảng 250 phiên).
Với tổng doanh thu môi giới này, việc đầu tiên là 10 CTCK lớn nhất sẽ lấy mất tỷ trọng khoảng 50% về thị phần (500 tỷ đồng), 95 CTCK còn lại sẽ phải chia nhau miếng bánh 500 tỷ với mức bình quân 5 tỷ đồng/CTCK/năm (tương đương với 420 triệu đồng/tháng). Mức doanh thu môi giới này không nhiều CTCK đạt được.
2. Doanh thu từ hoạt động tự doanh: Đa phần các CTCK hiện tại đều đã đầu tư vốn vào chứng khoán mà TTCK liên tục suy giảm như hiện nay thì không thể có doanh thu mà còn phải trích dự phòng đưa vào chi phí.
3. Doanh thu từ hoạt động tư vấn đầu tư: Với việc TTCK liên tục suy giảm thì hoạt động tư vấn của các CTCK hầu như bị tê liệt. Khi TTCK tăng trưởng, CTCK thu được doanh thu từ tư vấn niêm yết, tư vấn IPO, tư vấn tái cơ cấu (tăng vốn, cổ đông chiến lược, cơ cấu cổ đông...). Với tình trạng hiện tại, CTCK chỉ có thể thu được doanh thu từ hoạt động tư vấn tối đa ở mức 5 tỷ đồng/năm thông qua các hợp đồng kéo dài với các khách hàng truyền thống và một số đối tác "ruột" của Công ty.
4. Doanh thu khác: Với nguồn vốn 135 tỷ, sau khi trừ đi các chi phí mua sắm TSCĐ, các khoản chi bằng tiền khác (tiền nộp quỹ hỗ trợ thanh toán, các khoản đặt cọc thuê trụ sở...) dự trù tối thiểu khoảng 10 tỷ đồng thì nguồn vốn khả dụng còn lại là 125 tỷ đồng. Với việc các CTCK đều đã triển khai tự doanh (dự trù đều đã sử dụng ½ vốn để đầu tư) thì mức vốn còn lại để triển khai hoạt động margin và dịch vụ tài chính chỉ còn tối đa 70 tỷ đồng. Với mức vốn này, nếu triển khai hiệu quả tối ưu, CTCK có thể thu được 2%/tháng, tương đương 16,8 tỷ đồng/năm (1,4 tỷ đồng/tháng).
Với việc phân tách doanh thu của CTCK ở mức tối ưu nêu trên, tổng doanh thu CTCK thu được một năm: 5 tỷ đồng môi giới + 5 tỷ đồng tư vấn + 16,8 tỷ đồng doanh thu khác = 26,8 tỷ đồng (2,23 tỷ/tháng)
Mức doanh thu này chỉ thực hiện được với mức vận hành tối ưu các hoạt động và đối với các CTCK có tiềm lực về khách hàng và có cơ chế quản lý-kiểm soát hoạt động tốt.
Về chi phí: Các chi phí lớn, chủ yếu của CTCK bao gồm:
1. Chi phí thuê trụ sở: Chỉ với một trụ sở và một chi nhánh, thông thường mức chi tối thiểu và khoảng 400 triệu đồng/tháng với diện tích trụ sở 400 m2, chi nhánh 150 m2 (Bình quân giá thuê hiện nay vào khoảng 33-35 USD/m2/tháng). Tổng chi phí thuê trụ sở hàng năm CTCK mất 4,8 tỷ đồng.
2. Chi phí lương CBNV: Với mức tối thiểu tại trụ sở và chi nhánh tổng số là 50 CBNV, mức chi bình quân lương hàng năm mặt bằng chung hiện nay là 9 triệu đồng/CBNV/tháng thì tổng chi phí lương của CTCK là 5,4 tỷ đồng/năm (tính cả tháng lương thứ 13).
3. Các chi phí thiết yếu khác: 3,84 tỷ đồng
- Chi phí khấu hao TSCĐ: mức tối thiểu 200 triệu đồng/tháng tương đương 2,4 tỷ đồng/năm;
- Chi phí thành viên, phí đường truyền GD, viễn thông: tối thiểu 30 triệu đồng/tháng, tương đương 360 triệu đồng/năm;
- Điện, nước, điện thoại: 30 triệu đồng tháng/tháng, tương đương 360 triệu đồng/năm;
- VPP, chi phí khác cho nhân viên: 40 triệu đồng/tháng, tương đương 480 triệu đồng/năm;
- Chi phí bằng tiền khác: đi lại, phí, lệ phí, chuyển tiền, tiếp khách... tối thiểu 20 triệu đồng/tháng, tương đương 240 triệu đồng/năm;
Tổng các khoản chi phí tối thiểu một năm của CTCK là  14,04 tỷ đồng, tương đương 1,17 tỷ đồng/tháng.
Kết quả  kinh doanh ròng:

Tổng doanh thu : 26,8 tỷ đồng
Tổng chi phí : 14,04 tỷ đồng
Chênh lệch thu nhập chi phí : 12,76 tỷ đồng
Lợi nhuận sau thuế TNDN (25%) : 9,57 tỷ đồng
Tỷ  suất sinh lời/VCSH (135 tỷ đồng) : 7,1%/năm
Nếu CTCK với quy mô vốn 135 tỷ đồng và triển khai các hoạt động kinh doanh ở mức tối ưu về  doanh thu và tiết kiệm chi phí tối đa, có  định hướng kinh doanh và quản trị tốt mới  đạt được mức sinh lời hàng năm trên VCSH là 7,1%/năm, bằng một nửa so với phương án gửi tiền ngân hàng. Đây là sức ép rất lớn đối với cổ đông cũng như HĐQT, Ban điều hành. Bên cạnh đó, CTCK phải gánh chịu một số rủi ro làm suy giảm mạnh doanh thu cũng như làm tăng chi phí như:
- Chứng khoán tự doanh giảm giá: Nếu việc tự doanh của CTCK với giá trị 55 tỷ đồng, với việc danh mục tự doanh giảm giá (trích dự phòng rủi ro) 20%/vốn đầu tư (11 tỷ đồng) thì Kết quả kinh doanh đã là số âm. Trong khi, đa phần các CTCK đều có tình trạng trích DPRR từ 30-50% giá trị danh mục đầu tư tự doanh;
- Mất vốn do hợp tác kinh doanh (margin): Với việc cho vay bằng vốn của CTCK giá trị 70 tỷ đồng (chưa kể các CTCK còn đi vay của ngân hàng, các tổ chức, các nhân khác để cho vay lại nhà đầu tư), chỉ cần một hai khách hàng lớn bị cháy tài khoản và lơ là trong công tác quản lý rủi ro, CTCK đã phải đối mặt với những món mất vốn không thu được vài tỷ đồng. Nếu CTCK đi vay để cho vay với giá trị lớn hơn nhiều thì việc để rủi ro cháy tài khoản của nhà đầu tư từ 30-50 tỷ đồng cũng là chuyện bình thường.
- Chi phí gia tăng: Rất ít CTCK có kinh nghiệm quản lý chi phí, đặc biệt là những thời điểm khó khăn, CTCK vẫn phải đầu tư để đổi mới công nghệ, tuyển dụng người có năng lực để vận hành và chờ cơ hội khi TTCK phục hồi có nền tảng để tăng trưởng và phát triển. Do vậy, mức chi phí của hầu hết CTCK hiện nay đều không dưới 1,5 tỷ đồng/tháng (18 tỷ đồng/năm).
Qua đây, có thể thấy, khả năng đẩy mạnh và  nâng cao nguồn thu của CTCK là rất hạn chế trong khi luôn phải duy trì một mức chi phí cứng (cố  định) từ 14-15 tỷ đồng/năm mà không có  cơ hội cắt giảm trong thời kỳ khủng hoảng là  một thách thức lớn đối với hoạt động kinh doanh của CTCK hiện nay. Bên cạnh đó, các rủi ro lỗ  vốn hoặc gia tăng chi phí luôn cận kề và  không có phương án khắc phục làm trầm trọng thêm tình trạng khó khăn của CTCK. Chính vì vậy, trong thời gian 6 tháng tới, có thể dự đoán về tương lai của các CTCK nhỏ là không mấy khả quan và sẽ có khoảng 40-50% CTCK sẽ phải giải thể, sáp nhận hoặc thậm chí phá sản.

Công ty chứng khoán: Thời điểm của đào thải

(VEF.VN) - Nói về tái cấu trúc, thời gian qua mới xoáy vào hệ thống ngân hàng mà quên chưa nói đến các tổ chức tài chính, nhất là các CTCK. Nơi đó, có với số lượng DN lớn và gần một nửa đang thua lỗ và đứng trên bờ vực phá sản.

Vực thẳm đang chờ
Nếu như trước kia nói tới CTCK là nói tới một thực thể tài chính rất hấp dẫn với khả năng sinh lời cao và có vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính. Thì nay, nói đến CTCK phần nhiều người sẽ nghĩ tới thua lỗ, tới hiện tượng thiếu tiền mặt, tới sự tháo chạy, tới khả năng phá sản, và... đáng nói hơn là rất nhiều tên tuổi lừng lẫy một thời bây giờ cũng đang ăn vào vốn và đi kèm với những nghi án thiếu minh bạch trong đầu tư kinh doanh.
Nói về thực tế này, một chuyên gia chứng khoán có kinh nghiệm làm việc quốc tế lâu năm ngao ngán: "đây là điều rất tồi tệ và nó có thể kéo bất cứ doanh nghiệp lớn nhỏ nào tới phá sản".

Có gần nửa số CTCK đang thua lỗ và các chỉ số an toàn tài chính không đảm bảo.
Nói thế có thể là hơi quá bi đát vì không phảii tất cả các CTCK yếu kém nhưng không phải là sai bởi đa số các DN này đang gặp rất nhiều khó khăn. Một con số do chính các DN công bố gần đây cho thấy, kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2011 của các CTCK niêm yết trên HOSE có tới 2 phần 3 trong số này thua lỗ, trong đó 18 công ty có số lỗ trên 1.350 tỷ đồng. Một khảo sát  mang tính thử nghiệm để áp dụng chuẩn an toàn tài chính mới cho thấy,  tính đến đầu tháng 10/2011, 12 CTCK có tỷ lệ vốn khả dụng dưới 180%. Trong số đó có năm CTCK có tỷ lệ này ở dưới mức dưới 120% - mức có thể bị đưa vào diện kiểm soát đặc biệt...
Bên cạnh đó còn có một số hiện tượng đặc biệt như dấu hiệu mất thanh khoản tạm thời tại CTCK SME và sau đó công ty này đã bị UBCK đình chỉ một số nghiệp vụ. Dấu hiệu mất thanh khoản không chỉ nằm ở một hai công ty mà có thể tiềm ẩn ở khá nhiều đơn vị, khi mà tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp này khá cao.
Hơn thế nữa, nhiều người còn cho rằng những khó khăn của các CTCK mới chỉ ở giai đoạn đầu bởi trước đó, các CTCK có thể thỏa thuận cùng các ngân hàng về các khoản vay, còn nay thì dường như không thể. Bản thân các ngân hàng cũng đang rất khó khăn và cũng cần tái cấu trúc. Và, các CTCK có thể phải đối mặt với xu hướng các nhà đầu tư rút tiền ra khỏi thị trường, ra khỏi các CTCK có quy mô nhỏ và có dấu hiệu bất ổn.
Dù không mong muốn, nhưng nhìn vào thực tế này, chính lãnh đạo Ủy ban Chứng khoán cho rằng, sẽ phải chấp nhận phá sản nhiều công ty. Nguy cơ sụp đổ của các DN này đã hiển hiện trước mắt. Cho dù hậu quả đổ vỡ không nghiêm trọng bằng ngân hàng nhưng không thể nói là nhỏ được. Và nhiệm vụ tái cấu trúc nhóm này có thể nói là cần làm ngay và làm rốt ráo để lấy lại niềm tin đối với một kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế.
Đào thải để giữ lại niềm tin
Nếu như, tái cấu trúc ngân hàng cần nhiều thời gian và phải làm từ từ từng bước do đây là một hệ thống lớn và là huyết mạch của nền kinh tế và vẫn đang được hậu thuẫn bởi NHNN. Còn tái cấu trúc CTCK có thể làm sớm bởi quy mô nhỏ hơn, không gây ra hậu quả quá lớn nhưng tác dụng lại tốt.
Có thể thấy, trong vài năm trước đây, TTCK Việt Nam phát triển rất mạnh. Số lượng các doanh nghiệp lên sàn niêm yết cũng như các CTCK ra đời tăng lên từng ngày, có ngày thị trường đón nhận cả chục đơn vị.
Thị trường lớn mạnh về quy mô, giá cổ phiếu tăng là cơ sở để các CTCK hoạt động hết công suất và kiếm bộn tiền từ đây. Tuy nhiên, trong một cuộc chơi mà phần thua gần như nghiêng hết về phía các nhà đầu tư cá nhân, nhỏ lẻ thì chắc chắn sẽ không bền.
Niềm tin đối với TTCK, với các CTCK bị suy giảm một cách nghiêm trọng khi mà các nhóm lợi ích lớn liên kết với nhau để thao túng thị trường mà quên đi quyền lợi của nhà đầu tư - người mang lại vốn cho các doanh nghiệp lên sàn và lo lướt sóng kiếm tiền hơn là vun đắp cho chức năng huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế của TTCK.

Loại bỏ những yếu kém để thị trường minh bạch và lành mạnh hơn.
Nhưng rồi, việc gì đến cũng phải đến, cùng với suy thoái kinh tế, thị trường chứng khoán đã lao dốc, mất khoảng 65% so với đỉnh. Giờ đây, bất chấp nhiều chính sách được các cơ quan quản lý đưa ra để thúc đẩy thị trường như tăng thời gian giao dịch, hoãn/giảm thuế, thêm dịch vụ, sản phẩm..., dòng tiền vẫn đang được rút ra khỏi thị trường và các chỉ số vẫn lao dốc.
Tái cấu trúc các CTCK và tăng cường quản lý TTCK sẽ giúp các nhà đầu tư yên tâm ở lại với thị trường. Thị trường qua đó sẽ lấy lại thanh khoản và ấm lên. Dòng tiền khi đó sẽ vào thị trường và giúp các DN có thể huy động được vốn trong bối cảnh tín dụng vẫn đang bị thắt chặt.
Và để tái cấu trúc thành công, thì điều đầu tiên là cơ quan quản lý, mà ở đây là UBCKNN phải không nương tay với các công ty yếu kém, như các công ty không đáp ứng các chỉ tiêu về an toàn. Việc thanh lọc các CTCK và loại bỏ các thế lực lũng đoạn thị trường là cần thiết. Và như thế, đào thải những phần yếu kém cũng là cách khẳng định quyết tâm phát triển để lấy lại niềm tin cho thị trường.

Khi 'đại gia' muối mặt thừa nhận thua lỗ

(VEF.VN) - Thông tin sốc được chính những ông chủ doanh nghiệp tính toán và công bố như: lợi nhuận năm nay bằng 0, thua lỗ, thậm chí sắp phá sản... đang đặt ra một vấn đề: liệu đây có phải là một kiểu minh bạch tài chính hay đằng sau là âm mưu nào khác?
Thực tế, đây là một hiện tượng khá mới mẻ trên TTCK Việt Nam và câu trả lời cho vấn đề này hẳn là chưa thể có ngay bây giờ. Dù vậy, giới đầu tư đang đặt ra rất nhiều tình huống. Theo đó, rất có thể các ông chủ - các đại gia muốn minh bạch hóa tình hình khó khăn chung mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải để tránh sức ép từ cổ đông.
Nhưng cũng có người đặt ra tình huống, các cổ đông nhỏ lẻ có thể đã và đang bị đưa vào một cuộc chơi mà phần thắng thuộc về người nắm giữ thông tin.
Công bố thông tin kiểu sốc và lạ
Cuối tuần vừa qua (18/3), giới đầu tư đã thực sự sốc khi ông Đinh Hồng Long, Chủ tịch HĐQT Công ty Hanic (SHN) phát biểu trên một kênh tin cho biết SHN đang đứng bên bờ vực phá sản và hơn 6.000 cổ đông của công ty có nguy cơ mất vốn.
Phát biểu trên được đưa ra trong bối cảnh SHN vừa chính thức khởi kiện Công ty Cổ phần Beta BQP ra Tòa án Kinh tế TP. Hà Nội trước đó vài ngày để tìm cách thu hồi lại khoản nợ hơn 300 tỷ đồng theo hợp đồng hợp tác đầu tư tại dự án Thanh Hà Cienco 5.
Thực hư về khả năng mất khoản tiền nói trên (đại diện pháp luật của Beta là Nguyễn Anh Quân đã bỏ trốn sang nước ngoài) đến đâu là chưa được xác minh do vụ việc còn phải được các cơ quan chức năng điều tra.

Khi đại gia sẵn sàng muối mặt thừa nhận thua lỗ... (ảnh minh họa)
Mặc dù vậy, có một thực tế là tuyên bố không chính thống của ông Long cho biết "công ty của ông đang lâm vào tình trạng rất xấu, mất thanh khoản và dễ bị đổ vỡ", và "đang hội đủ những yếu tố dễ dẫn đến phá sản" đã ngay lập tức tác động rất mạnh lên cổ phiếu này và tới tâm lý chung trên thị trường.
SHN đã bị bán tháo ồ ạt. Dư bán giá sàn cuối ngày 19/3 còn hơn 7,5 triệu đơn vị, trong khi khớp lệnh trong cả hai phiên sáng và chiều chỉ đạt 56.500 đơn vị - một con số quá thấp, bi đát hơn cả trường hợp những ngày cuối cùng trên sàn hai cổ phiếu bị buộc hủy niêm yết BBT và DVD trước đây.
Đầu giờ sáng 20/3, dư bán sàn của SHN đã lên tới hơn 10 triệu đơn vị, trong khi khớp lệnh mới được 20.000.
Một điều đáng bàn là SHN là một cổ phiếu luôn được các nhà đầu tư trong nước chú ý trong các đợt sóng của thị trường. Cổ phiếu này thường có những đợt tăng giá bất thường theo kiểu lúc ồ ạt lên trần, lúc liên tục giảm sàn.
Một trường hợp gây sốc khác trong những ngày đầu của mùa đại hội cổ đông (ĐCHĐ) 2012 là LCG.
Tại ĐCHĐ ngày 17/3, ông Vũ Công Hưng, Tổng giám đốc CTCP Licogi 16 (LCG) xác định, 2012 sẽ vẫn là năm khó khăn đối với công ty. Trong đó, khó nhất là tìm vốn cho hoạt động đầu tư.
ĐCHĐ thống nhất thông qua việc không hạch toán doanh thu bất động sản trong năm 2012 - chỉ hạch toán khi LCG bàn giao nhà/sản phẩm hoàn thành cho khách hàng. Vì vậy, doanh thu kế hoạch là 735 tỷ đồng; lợi nhuận bằng 0; cổ tức 0%.
Theo trình bày của Đại diện LCG tại Đại hội, trong trường hợp không nghi nhận doanh thu bất động sản, năm 2012 doanh thu LCG sẽ đạt 735,5 tỷ đồng, lợi nhuận sẽ âm 7,5 tỷ đồng. Vì vậy, kế hoạch lợi nhuận bằng 0 sẽ buộc Ban điều hành của LCG không được lỗ trong năm 2012.
Thị trường dường như bất ngờ với kế hoạch lợi nhuận 2012 này của LCG, đẩy giá cổ phiếu xuống giá sàn và còn rất nhiều dư bán. Chốt phiên 19/3, dư bán sàn của LCG đạt hơn 2,1 triệu đơn vị, trong khi khớp lệnh chỉ được 140.000 đơn vị. Sáng 20/3, dư bán vẫn đạt gần 2,3 triệu đơn vị, trong khi khớp rất ít.
Với tình hình khó khăn hiện tại và sự "tiên phong" của LCG, nhiều khả năng sẽ còn không ít các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản có các kế hoạch "khiêm tốn" tương tự trong năm 2012 và điệp khúc này có thể còn lặp lại ở các công ty khác.
Khó khăn thực sự hay có tính toán khác?
Có thể thấy sự việc trên là một hiện tượng khá mới trên TTCK Việt Nam. Trong các năm trước, rất hiếm khi có trường hợp một doanh nghiệp lại nhanh chóng công khai toàn bộ tình trạng bi đát mà doanh nghiệp đang phải đối mặt hay đưa ra những kế hoạch buồn tẻ đến mức như vậy.
Phải chăng đây là một kiểu minh bạch tài chính hay có một âm mưu nào khác đằng sau khiến các ông chủ phải muối mặt nói ra?
Trong trường hợp SHN, nhiều nhà đầu tư cho rằng việc ông Long lên tiếng nói về khả năng phá sản của doanh nghiệp là bất đắc dĩ, ẩn chứa trong đó không loại trừ có những động cơ mục đích rõ ràng.
Xem xét vụ việc giữa SHN và Beta, có thể thấy khả năng thu hồi vốn trong Cienco 5 đến nay là khá thấp do khó khăn chung và hầu hết các dự án tốt xấu đều khó bán được hàng, dù giá đã giảm 30%. Hơn thế, trong trường hợp có đòi được thì như thường thấy cũng mất rất nhiều thời gian để thu tiền về.
Khả năng thu hồi nợ thấp phải chăng đã khiến SHN muốn tuyên bố sốc để gây áp lực lên các cơ quan chức năng trong vụ kiện Beta?
Câu hỏi này cũng chưa có lời giải đáp, nhưng có một số nghi vấn cho rằng, tuyên bố trên để nhằm giảm bớt sự chỉ trích của cổ đông trong đại hội sắp tới.
Chưa biết sự việc sẽ diễn biến tiếp như thế nào nhưng trên thực tế là trong thời gian qua cả SHN và các cổ đông lớn tại công ty này đã bán ra một lượng lớn cổ phiếu. Trong tuần thứ hai của tháng 2, SHN đã bán ra 830.000 cổ phiếu quỹ và nửa cuối năm 2011 liên tục ông Long và một số ủy viên HĐQT đã bán ra cả triệu cổ phiếu.
Theo thống kê của Cafef, tỷ lệ sở hữu của các thành viên HĐQT SHN gần như không còn. Ngay cả Chủ tịch hiện cũng chỉ nắm giữ khoảng 1%. Như vậy, hiện tại những người nắm giữ cổ phiếu SHN chủ yếu là các cổ đông nhỏ lẻ bên ngoài.
Nhiều nhà đầu tư hiện đang đặt ra vấn đề tư cách, hoặc chí ít là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo SHN với cổ đông trong vụ việc ký hợp đồng dạng cho vay hơn 300 tỷ cho một đối tác rất nhỏ. Hơn thế vụ việc phức tạp xảy ra nhưng ngay những người trong cuộc cũng không biết công ty này đã chuyển đi đâu thì thật đáng phải xem lại.
Trong trường hợp LCG, tình hình có vẻ minh bạch hơn khi mà kế hoạch 2012 được chuẩn bị sẵn theo hai phương án và trình ĐHCĐ.
Dù vậy, kế hoạch được thông qua "sau khi trao đổi với các cổ đông lớn" đã gây ra sự thất vọng tràn trề đối với các cổ đông nhỏ lẻ khác.
Một số nhà đầu tư cho rằng cổ đông LCG đã thông qua một kế hoạch doanh thu và lợi nhuận năm 2012 quá thấp. Nó không phản ánh đúng vị thế và quy mô của LCG. Với khối tài sản lên tới hơn 2.200 tỷ đồng (trong đó VCSH là gần 1.200 tỷ đồng) và bề dày hoạt động lâu dài của LCG thì kế hoạch không có lợi nhuận (thậm chí âm) là khó chấp nhận.
Trên thực tế, ban đầu, HĐQT đã tiến hành lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản thông qua nghị quyết đại hội cổ đông thường niên tháng 12/2011 tỷ lệ chia cổ tức năm 2011 là 17% vốn điều lệ. Sau đó, ngày 07/03/2012 H ĐQT đã công bố nghị quyết HĐQT về việc chia cổ tức năm 2011 với tỷ lệ 15% vốn điều lệ trong đó 5% bằng tiền và 10% bằng cổ phiếu.
Mặc dù vậy, ngay trong Đại hội, phương án thấp nhất (chia cổ tức 2011 là 5%) đã được thông qua. Bên cạnh đó, cũng theo ý kiến của các cổ đông lớn, theo cách ghi nhận doanh thu mới (ghi thu bất động sản vào cuối dự án) thì doanh thu 2012 chỉ đạt 735 tỷ đồng và lợi nhuận bằng 0.
Vấn đề đặt ra là, những điều chỉnh đã diễn ra quá nhanh và ở mức độ quá lớn. Thông tin được điều chỉnh bất ngờ như vậy được nhìn nhận có thể dẫn đến tình trạng lũng đoạn và thao túng giá.
Hai trường hợp nêu trên chỉ là một phần nhỏ những bất cập trong việc quản lý thông tin của công ty đại chúng trên TTCK mà nhiều nhà đầu tư bức xúc. Việc phát biểu không theo một quy định nào và không chịu trách nhiệm về lời nói, cũng như những thay đổi đầy bất ngờ có thể dẫn tới những thua thiệt không nhỏ cho các nhà đầu tư cá nhân.
Mới đây, những tin đồn sáp nhập trong ngành ngân hàng, rồi những thông báo mua vào để chạy hàng, bán không kịp thông báo, chậm công bố thông tin...  của hàng loạt ông chủ đã khiến giá cổ phiếu biến động mạnh theo chiều hướng có lợi cho người biết thông tin và có hại cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Vấn đề trách nhiệm của các cơ quan quản lý lại đang được đặt ra. Quá trình tái cấu trúc TTCK xem ra vẫn chậm chạp như xưa.