Từ “Chiến tranh lạnh” (Cold War) được nhà văn Anh George Orwell sử dụng
đầu tiên trong bài tiểu luận “You and the Atomic Bomb” đăng trên báo Tribune vào tháng 10 năm 1945; sau đó, trở thành phổ biến rộng rãi khi Walter Lippmann xuất bản cuốn sách nhan đề The Cold War
vào năm 1947. Nó được dùng để chỉ sự căng thẳng về cả chính trị lẫn
quân sự giữa hai khối tư bản (đứng đầu là Mỹ) và khối Cộng sản (đứng đầu
là Liên Xô) kéo dài từ năm 1947 đến năm 1991. Cả hai siêu cường quốc
đứng đầu hai khối, Mỹ và Liên Xô, đều muốn làm bá chủ thế giới. Nhưng cả
hai đều biết, với kho vũ khí hạt nhân khổng lồ của mình, nếu thực sự
đánh nhau, sẽ không có ai thắng ai cả: Cả hai đều cùng bị tiêu diệt. Bởi
vậy, người ta chọn hai cách khác để đánh nhau: Một, sử dụng chiến tranh
tâm lý; và hai, tiến hành các cuộc chiến tranh cục bộ ở một số nước với
sự giúp đỡ của hai siêu cường quốc lãnh đạo, trong đó, nổi bật nhất là
cuộc chiến tranh ở Triều Tiên (1950-53) và chiến tranh ở Việt Nam
(1954-75). Ngoài hai cách đánh nhau ấy, cả hai đều cạnh tranh ráo riết
trên các mặt trận khác, từ ngoại giao đến kinh tế và đặc biệt, nâng cấp
các kho vũ khí hạt nhân của mình.
Năm 1989, sau khi Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan, bức tường Berlin bị
sụp đổ, và chế độ Cộng sản bị phá sản ở tất cả các quốc gia Đông Âu,
Tổng thống George H.W. Bush tuyên bố tại cuộc hội nghị thượng đỉnh ở
Malta là Chiến tranh lạnh đã kết thúc.
Gần hai thập niên sau đó, thế giới vẫn còn chiến tranh, dĩ nhiên. Nhưng
chiến tranh ấy thuộc ba loại: Một, nội chiến giữa các phe phái trong một
nước (ví dụ, ở Congo, từ 1991-97; Tajikistan, 1992-96; Algeria,
1992-99; Burundi, 1993-2005; Rwanda, 1994; Côte d’Ivoire, 2002; Syria,
2012-13); hai, giữa hai nước (ví dụ, Nga và Chechnya, 1991-2009; Armenia
và Azerbaijan, 1991-94; Ethiopia và Eritrea, 1998-2000); và ba, chiến
tranh giữa một khối liên minh lớn trên thế giới với lực lượng thù nghịch
ở một nước nào đó (ví dụ, chiến tranh ở Vùng Vịnh năm 1991, ở
Afghanistan, từ 2001, và ở Iraq, 2003-2011). Ở hình thức chiến tranh thứ
ba, khối đồng minh bao giờ cũng do Mỹ lãnh đạo, phần lớn được sự đồng
thuận và sự tham gia của rất nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Một
số quốc gia phản đối, nhưng hầu hết đều chỉ phản đối về phương diện
ngoại giao và với mức độ vừa phải, không gây nên những mâu thuẫn quá
trầm trọng. Hầu như mọi người đều thừa nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối
của Mỹ.
Gần đây, với sự trỗi dậy của Trung Quốc, tình hình dần dần đổi khác. Về
mọi phương diện, từ kinh tế đến khoa học kỹ thuật và quân sự, Trung Quốc
vẫn còn thua Mỹ rất xa. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai nước dần dần đi từ
chỗ hợp tác đến đối kháng. Gần đây, một số nhà bình luận chính trị quốc
tế bắt đầu nói đến một thứ Chiến tranh lạnh giữa hai nước.
Chính Tổng thống Mỹ, Barack Obama, hầu như cũng thừa nhận điều đó trong chuyến viếng thăm châu Á vào tháng 11 năm 2011.
Hình thức Chiến tranh lạnh mới này khác hình thức Chiến tranh lạnh kiểu cũ, giữa Mỹ và Liên Xô, ở nhiều điểm.
Thứ nhất, về nguyên nhân, trong khi Chiến tranh lạnh kiểu cũ bắt nguồn,
trước hết, từ những mâu thuẫn về ý thức hệ, giữa chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa Cộng sản, hình thức Chiến tranh lạnh kiểu mới chỉ bắt nguồn từ
những mâu thuẫn về quyền lợi, chủ yếu là quyền lợi kinh tế và địa chính
trị của mỗi nước.
Thứ hai, về thế, trong Chiến tranh lạnh kiểu cũ, mỗi bên đều có một khối
liên minh quân sự đông đảo, tính về nhân số, hầu như ngang ngửa nhau;
trong Chiến tranh lạnh kiểu mới này, chỉ có Mỹ là có liên minh, không
những các liên minh cũ ở châu Âu mà còn có thêm nhiều các liên minh mới ở
châu Á, còn phía Trung Quốc, cho đến nay, vẫn chỉ một mình. Lý do chính
là, trên nguyên tắc, một liên minh thực sự chỉ có thể được xây dựng
trên nền tảng những bảng giá trị chung mà mọi quốc gia đều chia sẻ. Về
phương diện ấy, Mỹ có: Đó là những lý tưởng về tự do, dân chủ và nhân
quyền; còn Trung Quốc thì không: Những lý tưởng xã hội chủ nghĩa đã bị
phá sản, chính bản thân Trung Quốc cũng không còn tin tưởng hay đề cao
nữa; họ chỉ còn sử dụng quyền lợi để lôi kéo các nước khác, hầu hết là
các nước nghèo ở châu Phi và châu Á. Loại đồng minh kiểu đó chỉ có ít
nhiều giá trị trong việc buôn bán nhưng nếu chiến tranh bùng nổ, nó hoàn
toàn vô nghĩa.
Thứ ba, về lực, trong chiến tranh lạnh kiểu cũ, Mỹ và Liên Xô hầu như
ngang ngửa nhau; trong chiến tranh lạnh kiểu mới, Trung Quốc vẫn còn
thua hẳn Mỹ ít nhất là vài ba thập niên. Thua về số vũ khí. Thua về
trình độ kỹ thuật, và từ đó, hiệu quả tác chiến. Thua về kinh nghiệm tổ chức và chiến đấu.
Chính vì thế, hầu hết các nhà bình luận đều cho Trung Quốc chưa phải là
một sự đe dọa đối với nền an ninh của Mỹ trong hiện tại. Việc Mỹ bố trí
lại quân đội, đặc biệt là lực lượng hải quân ở vùng châu Á - Thái Bình
Dương, chủ yếu là để chuẩn bị cho một chiến lược lâu dài hơn là để đáp
ứng một nhu cầu khẩn thiết trước mắt. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là nguy cơ chiến tranh không có. Nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan, Nhật
Bản hoặc Philippines, Mỹ không thể khoanh tay ngồi nhìn. Trung Quốc có
thể tấn công ba nước ấy không? Bình thường, chỉ cần tỉnh táo một tí,
người ta đều biết là không. Nhưng lịch sử lại dạy chúng ta một điều:
Không thể nói chắc được. Khi chơi với lửa, không ai có thể cam đoan là
nó sẽ không bùng cháy và thiêu rụi một cái gì đó. Chỉ cần một hành động
nóng nảy hoặc dại dột của một người lính hải quân nào đó, hai bên có thể
sẽ đánh nhau, thoạt đầu giữa hai tàu chiến, sau đó, giữa hai nước; và
sau đó nữa, giữa hai khối. Trên thế giới, từ trước đến nay, vẫn có những
cuộc chiến bùng nổ vì những lý do lãng nhách như vậy.
Thứ tư, về hình thức. Trong khi chưa có tiếng súng nào giữa Mỹ và Trung
Quốc, nhiều nhà bình luận cho một hình thức chiến tranh lạnh đã thực sự
nổ ra giữa hai nước, thậm chí, giữa Trung Quốc và cả khối tự do do Mỹ
đứng đầu, bao gồm tất cả các quốc gia phát triển và dân chủ ở châu Âu và
Úc. Cuộc chiến ấy diễn ra trên mạng.
Từ lâu, người ta đã biết Trung Quốc chuyên đi đánh cắp các phát minh kỹ
thuật từ Mỹ và Tây phương nói chung. Bực thì bực, nhưng người ta vẫn xem
đó là chuyện bình thường. Thật ra, nước nào cũng vậy, cũng đều có đội
ngũ tình báo kinh tế lúc nào cũng tất bật hoạt động, không phải chỉ nhắm
vào đối thủ mà còn, nếu không muốn nói chủ yếu là còn, nhắm vào các
đồng minh thân thiết nhất của mình. Đó chỉ là một quy luật cạnh tranh.
Tuy nhiên, việc đánh cắp kỹ thuật của Trung Quốc càng ngày càng vượt quá
những giới hạn thông thường. Quá về mức độ: Họ ăn cắp hầu như mọi thứ,
từ kỹ thuật tin học đến khoa học không gian, viễn thông, năng lượng,
điện tử, tài chính… Bọn tin tặc của họ thâm nhập vào máy điện toán của
các nhà khoa học, các công ty và xí nghiệp lớn nhỏ ở Mỹ và ở Tây phương
để ăn cắp các dự án nghiên cứu và các tài liệu liên quan đến kế hoạch
phát triển. Thậm chí, nhiều người từ Tây phương sang Trung Quốc họp hành
bị công ty cấm sử dụng laptop hoặc cả điện thoại di động; hoặc nếu phải
sử dụng, sau khi về nước, phải đưa các thứ đó cho nhân viên an ninh
mạng “tẩy trùng”. Quá ở phạm vi: Không dừng lại ở lãnh vực kinh tế, đám
tin tặc Trung Quốc còn thường xuyên quấy nhiễu các website cũng như máy
điện toán của chính phủ hoặc các cơ quan an ninh, quốc phòng và ngoại
giao Tây phương. Quá ở tổ chức: chính phủ Trung Quốc luôn luôn chối bỏ
các lời cáo buộc liên quan đến việc ăn cắp của mình, nhưng các cơ quan
an ninh mạng của Mỹ, đặc biệt là Mandiant, mới đây đã đưa ra những bằng
chứng cụ thể cho thấy các hành vi ăn cắp ấy đều xuất phát từ cả ngàn
nhân viên tin tặc thuộc Quân đội Nhân dân Trung Quốc, được thành lập từ
năm 2006 và đặt tên là đơn vị 61398, có trụ sở là một tòa nhà 12 tầng ngay tại Thượng Hải.
Người ta thường phân biệt tin tặc thành hai loại: Có tổ chức và không có
tổ chức. Phần lớn tin tặc chỉ là những kẻ không có tổ chức: đó chỉ là
những kẻ giỏi về tin học, lại thích nghịch ngợm, hay đi lang thang trong
thế giới ảo, khám phá hoặc rình ngó chỗ này chỗ khác. Khi việc nghịch
ngợm của họ có thể gây hại cho người khác, họ có thể bị bắt và bị bỏ tù.
Thuộc loại tổ chức, có hai giới hạn: tổ chức xã hội hoặc kinh tế nhằm
phục vụ cho lợi ích của nhóm hoặc của công ty và tổ chức chính phủ.
Trong hai loại tổ chức ấy, dĩ nhiên loại tổ chức của chính phủ được xem
là nghiêm trọng hơn. Khi tổ chức chính phủ ấy lại nằm trong tay quân
đội, ý nghĩa thay đổi hẳn: Nó được xem là một sự tấn công dưới hình thức
phi-vũ trang.
Chữ “phi-vũ trang” ở trên rất dễ gây hiểu lầm. Trước, theo cách hiểu
thông thường, phi-vũ trang được được xem là vô hại. Nhưng những cuộc tấn
công trên mạng internet thì lại rất lợi hại. Thực chất, đó là một thứ
vũ khí mới đến độ Leon Panetta, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, phải lên
tiếng cảnh báo: Nếu Đệ nhị Thế chiến bắt đầu bằng trận chiến ở Trân
Châu Cảng; Đệ tam Thế chiến có thể sẽ bắt đầu bằng một trận Trân Châu Cảng ảo trên internet (cyber Pearl Harbour).
Cuộc tấn công của tin tặc Trung Quốc nhắm vào Mỹ và Tây phương như thế
đặt Mỹ và Tây phương vào thế bất lợi. Thứ nhất, họ chỉ ở thế phòng thủ,
luôn luôn phòng thủ. Hơn nữa, ở đây, “mặt trận” lại quá rộng, bao gồm
không những các cơ quan chính phủ mà còn mọi công ty xí nghiệp và cơ
quan nghiên cứu: Không phải ở đâu cũng có khả năng chống đỡ lại đám tin
tặc chuyên nghiệp ấy. Thứ hai, Mỹ và Tây phương không thể phản công: về
phương diện khoa học kỹ thuật, Trung Quốc không có gì đáng để người ta
sử dụng tin tặc để đánh cắp cả. Chả lẽ người ta lại đánh cắp lại những
thứ mà Trung Quốc ăn cắp của họ?
Không những bất lợi, Mỹ và Tây phương còn ở thế khó xử: Người ta không
thể công khai tuyên chiến với một nước chỉ vì một đám tin tặc dù người
ta biết rõ đám tin tặc ấy nằm trong quân đội và do nhà nước quản lý.
Nhưng người ta không thể im lặng và chịu đựng mãi. Trước, trong nhiều
năm, Mỹ và các quốc gia Tây phương đã chịu đựng và im lặng. Nay, người
ta bắt đầu lên tiếng, nêu đích danh Trung Quốc là một tên ăn cắp và quấy
phá trên mạng. Lên tiếng như thế cũng là một cách tuyên chiến.
Dĩ nhiên, đó không phải là chiến tranh nóng. Đó chỉ là một kiểu Chiến
tranh lạnh. Nhưng vì kiểu Chiến tranh lạnh này khác hẳn cuộc chiến tranh
lạnh kéo dài cả nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa Cộng sản
trước đây, nên David Rothkopf, biên tập viên tạp chí Foreign Policy, đề
nghị một tên gọi mới: Chiến tranh mát (the Cool War).
“Mát” ấm hơn “lạnh” một chút. Nhưng dù sao thì cũng vẫn là chiến tranh.
Vậy Chiến tranh Lạnh (1945–1991) là như thế nào?
Tình trạng tiếp nối xung đột chính
trị, căng thẳng quân sự, và cạnh tranh kinh tế tồn tại sau Thế chiến II
(1939–1945), chủ yếu giữa Liên bang Xô viết và các quốc gia vệ tinh của
nó, với các cường quốc thuộc thế giới phương Tây, gồm cả Hoa Kỳ. Dù các
lực lượng tham gia chủ yếu không bao giờ chính thức xung đột, họ đã thể
hiện sự xung đột thông qua các liên minh quân sự, những cuộc triển khai
lực lượng quy ước chiến lược, một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân, tình
báo, chiến tranh uỷ nhiệm, tuyên truyền, và cạnh tranh kỹ thuật, như
cuộc chạy đua không gian.
Dù là các đồng minh chống lại Phe trục,
Liên xô, Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã không đồng thuận trong và sau Thế
chiến II, đặc biệt về việc thiết lập thế giới thời hậu chiến. Khi cuộc
chiến kết thúc, họ chiếm hầu hết châu Âu, với việc Hoa Kỳ và Liên xô là
các lực lượng quân sự mạnh nhất.
Liên xô lập ra Khối Đông Âu với
các quốc gia Đông Âu mà họ chiếm đóng, sáp nhập một số trở thành Các
nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết và duy trì các quốc gia khác như
nước vệ tinh của mình, một số nước trong số đó sau này được củng cố vào
Khối hiệp ước Warsaw (1955–1991). Hoa Kỳ và một số quốc gia Tây Âu thành
lập chính sách ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản như là chính sách phòng vệ
của họ, và lập ra các liên minh (ví dụ NATO, 1949) cho mục đích đó.
Nhiều
quốc gia trong số đó cũng tham gia vào kế hoạch tái thiết châu Âu, đặc
biệt là Tây Đức, vốn bị Liên xô phản đối. Ở những nơi khác, tại Mỹ
Latinh và Đông Nam Á, Liên xô ủng hộ các cuộc các mạng cộng sản, bị
nhiều nước phương tây và đồng minh trong vùng của họ phản đối; một số
nước tìm cách hạ thấp, với những kết quả khác nhau. Một số nước liên kết
với NATO và Khối hiệp ước Warsaw, tuy thế các khối của những quốc gia
không liên kết cũng xuất hiện.
Cuộc chiến tranh Lạnh có đặc điểm ở
những giai đoạn khá yên tĩnh và những giai đoạn căng thẳng lên cao
trong quan hệ quốc tế – cuộc Phong toả Berlin (1948–1949), Chiến tranh
Triều Tiên (1950–1953), Khủng hoảng Berlin năm 1961, Chiến tranh Việt
nam (1959–1975), Khủng hoảng tên lửa Cuba (1962), Chiến tranh Xô viết
tại Afghanistan (1979–1989), và những cuộc tập trận Able Archer 83 của
NATO vào tháng 11 năm 1983. Cả hai phía đã tìm cách làm giảm các căng
thẳng chính trị và tránh một cuộc tấn công quân sự trực tiếp, vốn dường
như sẽ dẫn tới một sự tiêu diệt có đảm bảo từ hai phía với các loại vũ
khí hạt nhân.
Trong thập niên 1980, Hoa Kỳ tăng cường sức ép
ngoại giao, quân sự và kinh tế chống lại Liên xô, vốn đang ở tình trạng
trì trệ kinh tế. Sau đó, Tổng thống Liên xô Mikhail Gorbachev đưa ra
những cuộc cải cách tự do perestroika ("tái cơ cấu", "xây dựng lại",
1987) và glasnost ("mở cửa", khoảng năm 1985). Liên bang Xô viết sụp đổ
năm 1991, khiến Hoa Kỳ còn lại là cường quốc quân sự có vị thế thống
trị, và Nga sở hữu hầu hết kho vũ khí hạt nhân của Liên xô.
Sau thế chiến II, “Chiến tranh lạnh" giữa hai siêu cường là Liên xô và Mỹ, chi phối các quan hệ quốc tế.
I. MÂU THUẪN ĐÔNG – TÂY VÀ SỰ KHỞI ĐẦU CỦA “CHIẾN TRANH LẠNH”.
1. Nguồn gốc mâu thuẫn Đông – Tây:
Sau chiến tranh quan hệ Xô – Mỹ chuyển từ liên minh chống phát xít sang thế đối đầu và tình trạng “chiến tranh lạnh”.
* Nguyên nhân: do sự đối lập nhau về mục tiêu và chiến lược.
- Mỹ:
+ Chống phá Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, chống phong trào cách mạng, mưu đồ làm bá chủ thế giới.
+ Lo ngại trước ảnh hưởng to lớn của Liên Xô và Đông Âu, sự thắng lợi
của CHND Trung Quốc, CNXH đã trở thành hệ thống thế giới từ Động Âu
sang Đông Á.
+ Sau CTTG II, là nước tư bản giàu mạnh nhất, nắm độc quyền vũ khí nguyên tử, tự cho mình có quyền lãnh đạo thế giới.
- Liên Xô: chủ trương duy trì hòa bình, an ninh thế giới, bảo vệ
những thành quả của chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh phong trào cách mạng
thế giới.
2. Diễn biến “chiến tranh lạnh”:
a. Khởi đầu :12-03-1947, Tổng thống Tru-man gửi thông điệp tới
Quốc hội Mỹ khẳng định: sự tồn tại của Liên Xô là nguy cơ lớn đối với
nước Mỹ và đề nghị viện trợ cho Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, biến hai nước này
thành căn cứ tiền phương chống Liên Xô.
Học thuyết Tru-man:
+ Củng cố chính quyền phản động và đẩy lùi phong trào đấu tranh ở Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ .
+ Biến hai nước này thành tiền đồn chống Liên Xô và Đông Âu.,
b. “Kế hoạch Marshall” (Mác san) (06.1947):
+ Viện trợ 17 tỷ đô la giúp Tây Âu khôi phục kinh tế ,
+ “Kế hoạch Marshall” của Mỹ đã tạo nên sự đối lập về kinh tế và chính trị giữa các nước Tây Âu TBCN và các nước Đông Âu XHCN.
c. Thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ngày
4-4-1949, là liên minh quân sự lớn nhất của các nước tư bản phương Tây
do Mỹ cầm đầu chống Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu.
- Tháng 1-1949 Liên xô và Đông Âu thành lập Hội đồng tương trợ
- Tháng 5-1955 thành lập Tổ chức Hiệp ướcVác-xa-va (Varsava), một liên
minh chính trị- quân sự mang tính chất phòng thủ của các nước XHCN châu
Âu.
* Như vậy: sự ra đời của NATO, Vác–xa-va, kế hoạch Mac–san, khối SEV đã
đánh dấu sự xác lập cục diện hai cực, hai phe. “Chiến tranh lạnh” đã
bao trùm toàn thế giới.
II. SỰ ĐỐI ĐẦU ĐÔNG – TÂY VÀ NHỮNG CUỘC CHIẾN TRANH CỤC BỘ ÁC LIỆT
Trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”, hầu như mọi cuộc chiến tranh hoặc xung
đột quân sự ở các khu vực trên thế giới đều liên quan tới sự “đối đầu”
giữa hai cực Xô – Mỹ.
1. Cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương của thực dân Pháp 1945-1954
- Sau CTTG II, thực dân Pháp quay trở lại Đông Dương, nhân dân Đông
Dương kiên cường chống Pháp. Được sự giúp đỡ của Trung Quốc, Liên xô và
các nước Xã hội chủ nghĩa.
- Từ 1950, khi Mỹ can thiệp vào chiến tranh Đông Dương, cuộc chiến này ngày càng chịu sự tác động của hai phe.
- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký kết
(7/1954) đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ của ba nước Đông Dương, nhưng Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai
miền ở vĩ tuyến 17. Hiệp định Genève là thắng lợi của nhân dân Đông
Dương nhưng cũng phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt giữa hai phe.
2. Cuộc chiến tranh Triều Tiên (1950 – 1953)
- Sau CTTG, Triều Tiên tạm thời chia làm hai miền: Bắc vĩ tuyến 38 do Liên Xô cai quản và phía Nam là Mỹ.
- Năm 1948, trong bối cảnh chiến tranh lạnh, hai miền Triều Tiên đã
thành lập hai quốc gia riêng ở hai bên vĩ tuyến 38, Đại Hàn dân quốc
(phía Nam) và Cộng hòa DCNH Triều Tiên (phía Bắc).
- Từ 1950 – 1953, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ có sự chi viện của Trung Quốc (miền Bắc) và Mỹ (miền Nam).
- Hiệp định đình chiến 1953 công nhận vĩ tuyến 38 là ranh giới quân
sự giữa hai miền. Chiến tranh Triều Tiên là sản phẩm của “chiến tranh
lạnh” và là sự đụng đầu trực tiếp đầu tiên giữa hai phe.
3. Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ (1954 – 1975)
- Sau 1954, Mỹ hất cẳng Pháp, dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, âm
mưu chia cắt lâu dài Việt Nam, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa
kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.
- Việt Nam đã trở thành điểm nóng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ nhằm đẩy lùi phong trào GPDT và làm suy yếu phe XHCN.
- Chiến tranh Việt Nam trở thành cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất, phản ánh mâu thuẫn giữa hai phe.
- Cuối cùng, mọi chiến lược chiến tranh của Mỹ bị phá sản, Mỹ phải ký
Hiệp định Paris (1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; phải rút quân và cam kết không
dính líu về quân sự hoặc can thiệp về chính trị đối với Việt Nam.
- Năm 1975, nhân dân Đông Dương kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ.
III. XU THẾ HÒA HOÃN ĐÔNG TÂY VÀ “CHIẾN TRANH LẠNH” CHẤM DỨT
1. Những biểu hiện của xu thế hòa hoàn Đông – Tây
Đầu những năm 70, xu hướng hòa hoãn Đông – Tây xuất hiện với những cuộc thương lượng Xô – Mỹ.
- Ngày 9/11/1972, hai nước Đức ký kết tại Bon Hiệp định về những cơ
sở quan hệ giữa Đông Đức và Tây Đức làm tình hình châu Âu bớt căng
thẳng.
- 1972, Xô – Mỹ thỏa thuận hạn chế vũ khí chiến lược, ký Hiệp ước ABM
(Hiệp ước Chống tên lửa đạn đạo), SALT-1(Hiệp định hạn chế vũ khí tiến
công chiến lược), đánh dấu sự hình thành thế cân bằng về quân sự và vũ
khí hạt nhân chiến lược giữa hai cường quốc.
- Tháng 8/1975, 35 nước châu Âu và Mỹ, Canađa đã ký Định ước
Hen-xin-ki, khẳng định quan hệ giữa các quốc gia và sự hợp tác giữa các
nước, tạo nên một cơ chế giải quyết các vấn đề liên quan đến hòa bình,
an ninh ở châu lục này.
- Từ 1985, nguyên thủ Xô – Mỹ tăng cường gặp gỡ, ký kết nhiều văn
kiện hợp tác kinh tế – KHKT, trọng tâm là thuận thủ tiêu tên lửa tầm
trung châu Âu, cắt giảm vũ khí chiến lược vàhạn chế chạy đua vũ trang.
2. Chiến tranh lạnh kết thúc
Tháng 12/1989, tại Man –ta (Malta- Địa Trung Hải ), Xô – Mỹ tuyên bố
chấm dứt “chiến tranh lạnh” để ổn định và củng cố vị thế của mình.
* Nguyên nhân khiến Xô – Mỹ kết thúc “chiến tranh lạnh”:
- Cả hai nước đều quá tốn kém và suy giảm “thế mạnh” nhiều mặt.
- Đức, Nhật Bản, Tây Âu vươn lên mạnh, trở thành đối thủ cạnh tranh gay gắt với Mỹ.
- Liên Xô lâm vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng.
Xô –Mỹ thoát khỏi thế đối đầu để ổn định và củng cố vị thế của mình .
* Ý nghĩa: chiến tranh lạnh chấm dứt mở ra chiều hướng giải quyết hòa
bình các vụ tranh chấp, xung đột ở nhiều khu vực: Afganistan, Campuchia,
Namibia…
IV. THẾ GIỚI SAU “CHIẾN TRANH LẠNH”
- Từ 1989 – 1991, chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan rã.
- Ngày 28/6/1991, khối SEV giải thể
- 01/07/1991, Tổ chức Varsava chấm dứt hoạt động .
- Trật tự “hai cực” Yalta sụp đổ, phạm vi ảnh hưởng của Liên Xô ở
châu Âu và châu Á mất đi, ảnh hưởng của Mỹ cũng bị thu hẹp ở nhiều nơi.
- Từ 1991, tình hình thế giới có nhiều thay đổi to lớn và phức tạp:
+ Trật tự hai cực I-an-ta sụp đổ .Một trật tự thế giới đang dần dần hình thành theo xu hướng đa cực.
+ Các quốc gia tập trung phát triển kinh tế
+ Mỹ đang ra sức thiết lập một trật tự thế giới “đơn cực” để làm bá chủ thế giới,nhưng không thực hiện được .
+ Sau “chiến tranh lạnh”, nhiều khu vực thế giới không ổn định, nội
chiến, xung đột quân sự kéo dài (Ban-căng, châu Phi, Trung Á).
- Sang thế kỷ XXI, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đang diễn
ra thì vụ khủng bố 11.09.2001 ở nước Mỹ đã đặt các quốc gia, dân tộc
đứng trước những thách thức của chủ nghĩa khủng bố với những nguy cơ khó
lường, gây ra những tác động to lớn, phức tạp với tình hình chính trị
thế giới và trong quan hệ quốc tế.
- Ngày nay, các quốc gia dân tộc vừa có những thời cơ phát triển
thuận lợi, đồng thời vừa phải đối mặt với những thách thức vô cùng gay
gắt.
Việt Nam rút quân khỏi Campuchia năm 1989, 10 năm sau cuộc chiến Việt-Trung
Đó là bài viết của tác giả Harry Booty, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Chiến tranh của sinh viên trường Kings College London, được công bố trong những tháng cuối năm 2012.
Harry Booty nói có nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân chủ yếu dẫn tới xung đột năm 1979 là việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia hồi cuối tháng 12/1978 và lật đổ chế độ Pol Pot hồi đầu tháng 1/1979.
"Khi mở 'cuộc chiến trừng phạt', Trung Quốc đã dạy cho Việt Nam và cả bản thân một bài học."
Giáo sư Chen C. King
Ngoài chuyện Việt Nam lật đổ Khmer Đỏ, chế độ coi Trung Quốc là "người bạn hùng mạnh và đáng tin cậy nhất", cây viết ở Kings College London nhắc tới một loạt các yếu tố khác.
Trong số các cân nhắc của Trung Quốc có mong muốn một Đông Dương phân tán của chính họ, sự lo ngại vòng vây của Liên Xô từ các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh, các sự cố dọc biên giới Việt - Trung tăng đột biến trong thời gian trước khi xảy ra cuộc chiến, sự đối xử tệ bạc với người gốc Hoa ở Việt Nam cũng như lịch sử sóng gió giữa hai nước láng giềng.
Nỗi lo sợ về chuyện Liên Xô sẽ lấp khoảng trống mà Hoa Kỳ để lại tại Đông Dương dường như được xem như lăng kính mà qua đó giới lãnh đạo Trung Quốc nhìn các vấn đề khác.
Harry Booty đưa ra vấn đề Hà Nội ngược đãi người Hoa làm ví dụ.
Cây viết sinh viên này dẫn các nghiên cứu cho thấy trong số hai triệu người bị Khmer Đỏ diệt chủng, có tới 200.000 người gốc Hoa.
Mặc dù vậy Bắc Kinh đã sẵn sàng bỏ qua vấn đề này vì thấy cần phải làm vậy.
Ông Booty nói Trung Quốc nhìn cách đối xử với người gốc Hoa của Việt Nam như một chỉ dấu nữa cho thấy Hà Nội đang cùng với Liên Xô gây "phương hại những lợi ích chiến lược quan trọng của Trung Quốc."
Cả hai cùng học
Harry Booty cho rằng Bắc Kinh luôn muốn có một Đông Dương phân tán và trong bối cảnh Lào và Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác trong tháng 9/1977, việc Việt Nam tiến quân vào Campuchia đã cho Trung Quốc cái cớ trực tiếp nhất để gây chiến.
Hàng vạn lính Việt Nam đã nằm xuống trong 16 ngày giao tranh hồi năm 1979
"Nói cách khác, chúng ta có thể nhận xét rằng nếu Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ tốt hơn thì Bắc Kinh sẽ không lo ngại về sự thống lĩnh của Việt Nam ở sườn phía nam của họ."
Trên thực tế một số nhà quân sự Việt Nam coi các cuộc tấn công của Pol Pot vào Việt Nam là "cuộc chiến mượn tay người khác" của chính Trung Quốc.
Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên trưởng phòng tác chiến của Quân chủng phòng không trong giai đoạn xảy ra cuộc chiến 1979, thậm chí nói rằng Việt Nam đã "chiến thắng Trung Quốc" khi đánh bại Khmer Đỏ.
Trong cuộc chiến biên giới 1979, cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố thắng lợi, nhưng một nghiên cứu công bố vài năm sau khi cuộc chiến kết thúc nói không bên nào đạt được các mục tiêu chính đề ra.
Báo cáo 'China's War Against Vietnam, 1979: A Military Analysis' (Cuộc chiến của Trung Quốc Chống Việt Nam, 1979: Phân tích Quân sự) của Giáo sư Chen King từ Đại học Rutgers, Hoa Kỳ nói Trung Quốc chỉ phần nào đạt được các mục tiêu đề ra.
Ông King viết: "Trước hết, Trung Quốc đã không tiêu diệt được một vài sư đoàn mạnh của Việt Nam.
Tổn thất chiến tranh
| Trung Quốc | Việt Nam | |
| Thiệt mạng | 26.000 | 30.000 |
| Bị thương | 37.000 | 32.000 |
| Tù binh | 260 | 1.638 |
| Xe tăng, xe bọc thép | 420 | 185 |
| Súng và pháo hạng nặng | 66 | 200 |
| Cụm tên lửa | 0 | 6 |
| Chen C. King tổng hợp |
"Thứ ba, họ không buộc được Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia.
"Thứ tư, họ không gây ảnh hưởng được tới chính sách của Việt Nam đối với người Trung Quốc ở Việt Nam."
Nhưng vị giáo sư cũng nói Trung Quốc đã làm Hà Nội nghi ngờ độ sẵn sàng can thiệp vũ lực chống lại Trung Quốc để bảo vệ đồng minh của Liên Xô, tranh thủ được phần nào sự ủng hộ của khối ASEAN trong cố gắng ngăn Việt Nam tiến vào Đông Nam Á và gây khó khăn lập tức cho nền kinh tế Việt Nam.
Mặc dù Bắc Kinh tuyên bố đã dạy được Việt Nam 'bài học', ông Chen King cho rằng điều này cũng đúng với cả Trung Quốc.
Cho dù nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình có vẻ quan tâm hơn tới mục tiêu địa chiến lược so với thành công quân sự của cuộc chiến, tác giả King nhận định:
"Khi mở 'cuộc chiến trừng phạt', Trung Quốc đã dạy cho Việt Nam và cả bản thân một bài học.
"Giới quân sự Bắc Kinh chắc hẳn đã kết luận rằng Giải phóng Quân Nhân Dân không thể tiến hành một cuộc chiến hiện đại trước khi họ hiện đại hóa về cả vũ khí và chiến lược."
Tác giả nói các cố gắng hiện đại hóa về cả vũ khí và đào tạo chiến lược đã được đẩy nhanh và có thể thấy các kết quả ban đầu ngay từ đầu năm 1982 với sự xuất hiện của các tên lửa tầm xa và số máy bay cũng như tàu ngầm.
Nhìn từ Trung Quốc
Một số học giả Trung Quốc cũng đã nhìn nhận mức độ thương vong quá lớn của quân đội Trung Quốc và cách tổ chức chiến trận thiếu hiệu quả trong cuộc chiến 1979.Các video trên mạng xã hội Youku của Trung Quốc trong khi đó nhắc tới sự giúp đỡ của họ trong cuộc chiến chống Hoa Kỳ của Việt Nam trong đó "nhiều máu của người Trung Quốc" đã đổ.
Tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc nói 16 sư đoàn lính phòng không của Trung Quốc với tổng cộng trên 150.000 quân đã tham gia các chiến dịch quân sự ở Việt Nam trong giai đoạn 1965-1969.
Số quân này được cho là đã tham gia hơn 2.100 trận đánh, bắn rơi hơn 1.700 máy bay Hoa Kỳ và gây hư hại cho hơn 1.600 chiếc khác.
Trong số quân tham chiến trong giai đoạn này có cả lính từ hai Đại Quân khu Quảng Châu và Côn Minh, hai lực lượng đã hình thành hai gọng kìm tiến vào Việt Nam trong năm 1979 như trong video trên đây.
"Bắc Kinh được xem là luôn có phong cách của một nước "bề trên" trong quan hệ với Việt Nam trong khi cách hành xử hiện nay của Hà Nội cho thấy họ chưa cảm thấy đủ sự tự tin để có quan hệ ngang hàng với Bắc Kinh."
Các nhà nghiên cứu cũng nói quan hệ quá gần gũi giữa Việt Nam và Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại Hoa Kỳ cũng chính là lý do khiến hai bên có những bất đồng.
Trung Quốc đã rút toàn bộ quân khỏi Việt Nam trong năm 1969 sau khi Hà Nội giữ quan điểm đàm phán với Washington bất chấp phản đối của Trung Quốc.
Về phía Hà Nội, giới nghiên cứu nói Hồ Chí Minh và các lãnh đạo miền Bắc luôn đề nghị được Trung Quốc giúp đỡ và sẵn sàng nhận giúp đỡ từ Bắc Kinh mà không chấp nhận coi nước láng giềng là tấm gương để phát triển.
Hà Nội cũng không chịu chọn giữa Trung Quốc và Liên Xô, thậm chí đã ngả hẳn về phía Liên Xô trước khi cuộc chiến biên giới nổ ra.
Một trong các tướng lĩnh cao cấp của Việt Nam sau này được các nhà nghiên cứu dẫn lời nói một trong những bài học từ cuộc chiến 1979 là Hà Nội cần "học cách sống cạnh người láng giềng lớn".
Bắc Kinh được xem là luôn có phong cách của một nước "bề trên" trong quan hệ với Việt Nam trong khi cách hành xử hiện nay của Hà Nội cho thấy họ chưa cảm thấy đủ tự tin để có quan hệ ngang hàng với Bắc Kinh.
BBC xin giới thiệu lại một số tư liệu lịch sử nước ngoài về sự tham gia của Liên Xô và Trung Quốc trong chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là trong các trận chiến phòng không, không quân trên miền Bắc chống lại Không lực Hoa Kỳ.
Hàng vạn quân Trung Quốc
Bob Seals trong một bài đăng trên trang Military History hồi 2008 đã trích nhiều từ các tác giả Trung Quốc có sách xuất bản ở Phương Tây, Địch Cường (Qiang Zhai) và Lý Hiểu Binh (Li Xiaobing) viết rằng Bắc Kinh tiếp tục hỗ trợ cho Hà Nội sau chiến tranh Đông Dương lần 1 dù viện trợ quân sự giai đoạn chiến tranh Đông dương lần 2 (1965-1975) có mục tiêu chính trị khác trước.Đặc biệt, sự dính líu quân sự của Trung Quốc vào thời gian chiến tranh Mỹ Việt khác cuộc chiến Pháp Việt ở chỗ có sự hiện diện của hàng vạn quân Trung Quốc ở miền Bắc Việt Nam, chủ yếu trong các binh chủng công binh và phòng không.
"Đỉnh điểm của sự can dự từ phía Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam là năm 1967, khi tổng số lực lượng phòng không lên tới 17 sư đoàn, với 150 nghìn quân"
"Ngoài phòng không, PLA còn cung cấp tên lửa, đạn pháo, hậu cần, đường xe lửa, xe phá mìn và các đơn vị công binh hàn gắn lại cơ sở hạ tầng bị các đợt oanh kích của Hoa Kỳ phá hủy.”
Giới nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam cho rằng đây là vai trò rất quan trọng vì từ năm 1965 đến 1972, Hoa Kỳ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam.
Sau chiến tranh chỉ còn lại chút ít dấu tích các điểm phòng không với vũ khí Trung Quốc ở Việt Nam
Bài trên Military History cũng nói phía Trung Quốc cho rằng họ đã bắn hạ 1707 máy bay Mỹ trên vùng trời Việt Nam.
Nhưng dù trước đó, ông Hồ Chí Minh đã đề nghị ông Mao Trạch Đông trợ giúp quân sự, quan hệ Trung – Việt có chiều hướng xấu đi từ 1970 vì lý do bất đồng quanh Hòa đàm Paris.
Ngoài ra, quan hệ Trung - Việt cũng chịu ảnh hưởng của bang giao Trung – Xô không còn tốt, với việc tiếp cận Washington của Bắc Kinh, và Trung Quốc bắt đầu rút dần quân của họ về nước.
Dù vậy, Bắc Kinh lại tiếp tế mạnh cho Hà Nội từ sau chiến dịch Xuân – Hè 1972 (Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive, hay Mùa Hè Đỏ Lửa theo cách gọi của Việt Nam Cộng hòa), khi lực lượng cộng sản miền Bắc thiệt hại nặng, mất tới 450 xe tăng và chừng 100 nghìn quân.
Đợt tấn công của quân Bắc Việt ở miền Nam bằng 20 sư đoàn, đông hơn số quân Tướng Patton chỉ huy thời Thế chiến 2 tại châu Âu, đã phải trả một cái giá khủng khiếp, theo đánh giá của Hoa Kỳ.
Nhưng từ năm 1973, Trung Quốc lại cung cấp cho Việt Nam về vũ khí và xe tăng đủ phục hồi 18 sư đoàn, góp phần vào trận tấn công cuối cùng, đem lại thắng lợi cho Hà Nội vào tháng 4/1975.
Quân Liên Xô bắn máy bay Mỹ
Từ sau Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu xuất hiện tin tức hoặc sử liệu nói về sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại miền Bắc Việt Nam.Hồi 2008, nhân chuyện Thượng nghị sỹ John McCain ra tranh cử tổng thống Mỹ, hãng tin Nga (RIA Novosti) đưa tin một cựu phi công Liên Xô, ông Yury Trushvekin, nói chính ông là người đã bắn hạ phi cơ của ông John McCain trên bầu trời Hà Nội năm 1967.
Ông John McCain thăm lại Hà Nội, nơi có trưng bày ảnh ông bị bắn rơi năm 1967
Có vẻ như khác với người Trung Quốc, các sỹ quan và binh sỹ Liên Xô đã tác chiến cùng đồng đội Việt Nam, như theo lời kể của ông Trushvekin.
Trong một bài gần đây trên trang topwar.ru bằng tiếng Nga được một số trang mạng tiếng Việt dịch lại, một cựu sỹ quan Nga khác đã xác nhận chuyện cùng chiến đấu và sinh hoạt với bộ đội Việt Nam.
Ông Nicolai Kolesnhik, một cựu chiến binh Nga ở Việt Nam, trả lời trang web của Nga, nói từ năm 1965, ông cùng các đơn vị Liên Xô tham gia phòng thủ Bắc Việt Nam bằng tên lửa chống lại không quân Hoa Kỳ.
Ông Kolesnhik cũng nói về sự giúp đỡ quân sự của Liên Xô rất lớn "khoảng hai triệu USD một ngày trong suốt tất cả những năm chiến tranh" và trong đó vũ khí, khí tài chiếm số lượng lớn.
"Hai nghìn xe tăng, bảy nghìn pháo và súng cối, hơn năm nghìn súng cao xạ phòng không, 158 tổ hợp tên lửa phòng không, hơn 700 máy bay, 120 máy bay trực thăng, hơn 100 tàu chiến," ông Koleshnik nói.
Ông cũng cho biết: "Từ tháng 7/1965 đến cuối 1974 gần 6500 nghìn sĩ quan và tướng lĩnh và hơn 4500 binh lính hạ sĩ quan của các lực lượng vũ trang Liên Xô tham gia tác chiến tại Việt Nam."
Trung
tướng Phạm Tuân và các khách Nga thăm Hà Nội nhân kỷ niệm
trận đánh nổi tiếng Linebacker II/Điện Biên Phủ trên không
Liên Xô cũng hỗ trợ nước Việt Nam thống nhất dưới chế độ cộng sản và là thành viên khối Hiệp ước Warsaw do Moscow chỉ đạo chống trả lại cựu đồng minh là Trung Quốc trong giai đoạn xảy ra xung đột biên giới Việt - Trung năm 1979.
Và ngày nay, với căng thẳng trên Biển Đông lên cao, Hà Nội tiếp tục mua các vũ khí tối tân trị giá hàng tỷ USD từ Moscow để phòng thủ biển đảo.
Thăm lại Hà Nội nhân dịp 40 năm đợt không tập của Hoa Kỳ, Trung tướng Nga, Anatoly Ivanovich Khiupenen, trưởng đoàn cố vấn quân sự Liên Xô tại Việt Nam từ 1972 đến 1975, tin tưởng rằng ngày nay "không nước nào có thể thắng cuộc chiến tại Việt Nam", theo báo chí nước chủ nhà.
Có vẻ như sự trở lại của người Nga giúp Hà Nội tự tin hơn một khi có xảy ra xung đột trong khu vực Đông Nam Á, nơi Trung Quốc đang có những động thái nhằm làm chủ các vùng biển tranh chấp với Việt Nam và một số nước Asean.
'Lẽ ra nhà nước phải tưởng niệm 17/2'
Cập nhật: 16:32 GMT - chủ nhật, 17 tháng 2, 2013
Tướng Vĩnh nói chính quyền đã quên những người ngã xuống chống xâm lược
Cựu Đại sứ Việt Nam tại
Trung Quốc trong giai đoạn 1974-1987, Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh phê phán
nhà nước 'lảng tránh' kỷ niệm ngày Trung Quốc khởi động cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam ở biên giới phía Bắc của nước này vào ngày 17/2/1979.
Trao đổi với BBC từ Hà Nội hôm Chủ nhật, 17/2/2013,
Tướng Vĩnh cho rằng nhà nước "lẽ ra" phải đứng ra tưởng niệm
các "đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh" nhưng ngược lại đã "không hề đoái
hoài" trong khi vẫn kỷ niệm các sự kiện trong chiến tranh với người Pháp
và người Mỹ.
Tướng Vĩnh cũng bình luận về việc sách giáo khoa ở nhà trường phổ thông Việt Nam được cho là không phản ánh và đề cập cuộc chiến giữa hai quốc gia láng giềng cộng sản trong chương trình giáo dục, cũng như nhận xét về việc phải chăng chính quyền Việt Nam quan ngại Trung Quốc "mếch lòng" và "trừng phạt" nếu nhắc lại cuộc xung đột 34 năm về trước.
Mở đầu cuộc trao đổi với BBC Việt ngữ, vị tướng năm nay 98 tuổi tường thuật việc ông và một đoàn nhân sỹ, trí thức và quần chúng bị lực lượng an ninh ngăn cản khi định dâng hương ở Tượng đài Liệt sỹ ngay trước lăng cố Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội hôm Chủ Nhật.
"Đáng nhẽ ra việc đó nhà nước phải đứng ra viếng mới phải. Đằng này nhà nước từ mấy năm nay không hề đoái tưởng đến đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh trong việc chống lại sự xâm lược của TQ"
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
Họ nói lý do này khác, rồi gọi điện thoại đi ở đâu không biết. Lúc họ nói vào cửa trước, lúc họ bảo vào cửa sau. Có lúc họ bảo vào 4 người thì được, 5 người không được. Loanh quanh, cuối cùng họ cấm không cho chúng tôi vào. Thì chúng tôi mấy người thương sót đồng bào và chiến sỹ hy sinh đó, chúng tôi đứng ở ngoài vái vái, rồi đi về thôi.
Chúng tôi rất tiếc, không hiểu tại làm sao đối với các liệt sỹ và đòng bào hy sinh mà người ta cấm chúng tôi không được viếng là thế nào. Đáng nhẽ ra việc đó nhà nước phải đứng ra viếng mới phải. Đằng này nhà nước từ mấy năm nay không hề đoái tưởng đến đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh trong việc chống lại sự xâm lược của Trung Quốc.
Chúng tôi lấy làm lạ lắm, mấy năm nay, đáng lẽ chính phủ phải làm việc đó. Đến bây giờ, ngày đó, chúng tôi tỏ lòng thương sót đồng bào và chiến sỹ ta hy sinh, chúng tôi đến viếng một cách hòa bình, chúng tôi không làm gì cả, chúng tôi không hiểu vì sao lại cấm chúng tôi, không được vào viếng. Tôi không hiểu cấp trên nào mà lại vô cảm đến như thế.
'Sợ TQ mếch lòng?'
BBC: Thưa ông, hay có ai đó lo ngại những cuộc tưởng niệm như vậy có thể làm "kích động tính dân tộc chủ nghĩa" và làm cho Trung Quốc mếch lòng, rồi có thể dẫn tới trừng phạt họ?
Đoàn tưởng niệm 17/2 ở Hà Nội đang 'vái vọng' sau khi bị an ninh ngăn cản không cho vào Đài tưởng niệm
BBC: Tại sao ở Việt Nam vẫn có những cuộc kỷ niệm Điện Biên Phủ, hay Điện Biên Phủ trên không, và gần đây là sự kiện Tết Mậu Thân 1968, trong khi Việt Nam vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với Pháp hay Mỹ, mà sự kiện 17/2/1979 chính quyền lại im lặng và không có chủ trương kỷ niệm?
Tướng Vĩnh: Tôi cho việc ấy là một việc rất không bình thường. Nhưng muốn hỏi tại sao thì đề nghị các vị hỏi các nhà cầm quyền mới được.
BBC: Việc sách vở giáo khoa ở nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay có vẻ 'vắng bóng đề cập' cuộc chiến với Trung Quốc năm 1979, việc ấy nếu có, thì có đúng không?
"Nhưng tôi tin rằng những người Việt Nam có lương tri thì họ đều muốn đưa lên, để cho con cháu biết chuyện ấy"
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh
BBC: Khi cuộc chiến 1979 diễn ra và trong suốt thời gian hơn 10 năm, nhiều báo đài ở Việt Nam thường xuyên đưa tin về việc Trung Quốc xâm lược VN trong giai đoạn đó, nhưng hôm 17/2 năm nay, nhiều tờ báo ở Việt Nam im lặng, ông nghĩ thế nào?
Tướng Vĩnh: Khó nhận xét lắm, đó là chuyện rất khó hiểu. Còn các báo chí mà họ không dám đưa tin chắc đã bị các cơ quan phụ trách về tuyên truyền, truyền thông cấm đoán họ thế nào đó. Cho nên họ không dám làm.
Nếu họ làm, họ sẽ mất chức tổng biên tập, cho nên họ sợ, họ không dám làm. Nhưng tôi tin rằng những người Việt Nam có lương tri thì họ đều muốn đưa lên, để cho con cháu biết chuyện ấy.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh giữ cương vị Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc trong thời gian 13 năm từ năm 1974-1987. Những năm gần đây, ông thường xuyên phát biểu, gửi thư, góp ý công khai về nhiều vấn đề chính sách, chiến lược tới chính quyền, trong đó ông lên tiếng kiến nghị về các vụ việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, cho người nước ngoài thuê rừng đầu nguồn, thay đổi Hiến pháp sao cho dân chủ và tự do thực sự v.v...
Cuộc chiến biên giới 1979
Cập nhật: 05:17 GMT - chủ nhật, 17 tháng 2, 2013
Còn đối với quốc tế thì đó là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba.
Dù gọi dưới danh xưng gì đi nữa thì cuộc chiến này vẫn là một trong những trận chiến thảm khốc nhất dưới góc độ hủy diệt và dã man trong một khoảng thời gian rất ngắn.
Không có bất cứ số liệu nào chính thức và đáng tin cậy về con số thương vong của quân dân hai bên tham chiến, tuy nhiên con số mà người ta ước lượng là trên 100 ngàn người cho cả hai phía sau gần 30 ngày giao tranh đẫm máu sau khi Trung Quốc chính thức rút quân vào ngày 16/3/1979.
Thảm khốc
Trên đường tấn công, quân Trung Cộng nã súng không thương tiếc đối với bất kỳ ai, bất kỳ vật gì mà họ gặp trên đường tiến quân.Sư đoàn 163 của họ nhận được lệnh từ cấp trên là “sát cách vô luận” tức“ giết người không bi buộc tội” do vậy lính Trung Cộng đã thẳng tay sử dụng đại bác, hỏa tiển, súng phun lửa, mìn và kể cả xăng để tiêu diệt từ làng này sang làng khác, hết chục người này đến trăm, đến ngàn người khác.
Nếu như, ở Bát Xát, thuộc Lào Cai, hàng trăm phụ nữ bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang, thì tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9/3/1979, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người gồm 23 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai.
Tất cả đều bị giết bằng dao. 10 người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Việt Nam đã ra lệnh tổng động viên thanh niên vào quân ngũ
Ngày này, ba mươi bốn năm sau, dường như không còn chút vết tích gì về cuộc chiến đó trên quê hương Việt Nam.
Đối với mỗi người Việt Nam yêu nước câu hỏi lớn và đau đớn nhất trong ngày này là - đây là một sự lãng quên vô tình hay phản bội?
Bởi toàn bộ hệ thống truyền thông, báo chí chính thống của nhà nước không hề nêu lên một chữ dù chỉ để nhắc nhớ như đã từng nhắc nhớ về những cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ? (Báo Thanh Niên số 17/2/2013 có bài Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979, bài duy nhất trên phương tiện truyền thông Việt Nam trực tiếp nhắc đến cuộc chiến chống quân Trung Quốc - BTV)
Trong hàng loạt những hoạt động tưởng nhớ, đền ơn những người có công với đất nước người ta không hề nghe đến những người đã hy sinh cho Tổ quốc trong trận chiến với “quân Trung Quốc xâm lược” vào tháng 2 năm 1979.
Trên các tỉnh phía Bắc, nơi xảy ra cuộc chiến, những tấm bia nào có ghi dòng chữ “quân Trung Quốc xâm lược” đều bị xóa sạch.
Cũng có những nghĩa trang chôn cất những người đã hy sinh trong trận chiến nhưng lại đìu hiu đến ngậm ngùi.
Nghĩa trang Duyên Hải, Lào Cai là một điển hình chua xót. Cũng từ cái chủ nghĩa ấy các anh đã cầm súng và hy sinh, và sự hy sinh của các anh ngày hôm nay đã biến vào hư không, âm thầm như nhũng cái chết vô danh. Những nấm mộ này vẫn đang nằm trong lãng quên của nhiều người, ngoại trừ nỗi buồn đau của người thân các anh.
Lãng quên hay phản bội?
Đáng lẽ ngày này phải có lễ kỷ niệm, bởi vì đó là ngày Trung Quốc xâm lược Việt Nam, tàn phá biên giới giết hại nhân dân Việt Nam.Đó là một dấu mốc mà nhân dân Việt Nam đời đời khắc cốt, ghi xương.
Đáng ra phải có lễ kỷ niệm, nhưng vì sao vậy?
Đó là do sức ép của nhà cầm quyền Trung Cộng đối với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, Trung Quốc vừa ăn cướp vừa bịt miệng nạn nhân với những mỹ từ nào là “16 chữ vàng” nào là “4 tốt”.
Liệu pháp “16 chữ vàng” và “4 tốt” xuất hiện trong bối cảnh nào mà đã xóa sạch mọi vết tích của trận chiến ngày 17/2/1979? Thậm chí nó còn muốn hủy diệt sức đề kháng trước ngoại xâm của dân tộc Việt Nam?
Vì sao hình ảnh “16 chữ vàng” và “4 tốt” đã thay chỗ cho những khuôn mặt đau thương, những thân hình tàn phế cùng những hy sinh không đếm được của hàng chục vạn chiến sĩ, đồng bào trong cuộc chiến 17 tháng 2 năm 1979>
Hàng ngàn năm sống bên cạnh Trung Quốc đã cho người Việt Nam quá nhiều kinh nghiệm và bài học.
Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay vì luôn luôn đặt quyền lợi của Đảng lên trên quyền lợi của dân tộc nên mới nhận kẻ thù truyền kiếp của dân tộc làm bạn, rồi bây giờ cũng vì quyền lợi riêng, nên cúi đầu cam tâm thần phục Bắc Kinh, và ép buộc nhân dân phải đớn hèn theo họ!
Cuộc chiến biên giới tháng 2 năm 1979 chống quân Trung Quốc xâm lược rõ ràng là một cuộc chiến cố tình bị lãng quên. Tôi cho đó là một sự phản bội của Đảng Cộng sản Việt Nam!
Bài phản ánh quan điểm và cách hành văn của người viết, nhà báo hiện sống ở Bratislava, Slovakia.
| Ngày 17-2-1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam |
Tư
liệu của Trung Quốc nói rằng từ đầu, Bắc Kinh hạn chế mục
tiêu và cách tiến hành cuộc chiến để không vượt quá một cuộc
xung đột biên giới với Việt Nam.
Kế hoạch của Trung Quốc gồm ba giai đoạn.
Giai
đoạn đầu từ 17 đến 25-2, khi quân Trung Quốc, theo kế hoạch, sẽ
phá vỡ hàng phòng thủ đầu tiên của Việt Nam và cướp lấy Cao
Bằng, Lào Cai, cùng hai thị trấn Cam Đường và Đồng Đăng, cửa
ngõ dẫn vào Lạng Sơn.
Giai
đoạn hai là tấn công Lạng Sơn và khu vực bao quanh ở phía đông,
Sa Pa và Phong Thổ ở mạn tây bắc, từ 26-2 đến 5-3.
Giai
đoạn cuối là bình định và phá hủy các căn cứ quân sự ở khu
vực biên giới với Trung Quốc trước khi rút về vào ngày 16-3.
Diễn biến cuộc chiến
Theo
nhận định của Xiaoming Zhang trong một nghiên cứu đăng trên tạp
chí China Quarterly tháng 12-2005, cuộc tấn công có vẻ đã làm
Việt Nam bị bất ngờ.
Mặc dù có căng
thẳng trong nhiều tháng, nhưng dường như các nhà lãnh đạo Việt
Nam không tin rằng một "nước anh em" sẽ lại thật sự xâm lấn.
Khi
quân Trung Quốc tràn qua biên giới, thủ tướng Phạm Văn Đồng và
tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng đang ở Phnom Penh.
Trong
lúc gửi điện khẩn nhờ Moscow giúp đỡ, phản ứng ban đầu của
Việt Nam là "chống đỡ bằng mọi biện pháp, cốt sao làm chậm
bước tiến quân của Trung Quốc."
Đến ngày
20-2, các cố vấn Liên Xô kết luận quân Việt Nam thiếu sự điều
phối và rằng các phòng thủ du kích sẽ không thể ngăn được quân
đối phương.
| Trung Quốc và Việt Nam đánh giá khác nhau về cuộc chiến 1979 |
Tuy
nhiên, mặc dù có ưu thế lúc đầu, nhưng địa hình hiểm trở và
sự chống cự quyết liệt của quân chính quy và dân quân Việt Nam
khiến quân Trung Quốc lâm vào tình trạng khó khăn.
Tác
giả Xiaoming Zhang phân tích một trong những vấn đề nằm trong
cách nghĩ truyền thống của các tướng lĩnh Trung Quốc.
Nhiều
lần, quân tiền phương kêu gọi không quân hỗ trợ, nhưng Bộ tổng
tham mưu Trung Quốc không chịu mà lại yêu cầu hãy dựa vào pháo
binh.
Các tướng lĩnh Trung Quốc thuộc về
một truyền thống quen với cuộc chiến pháo binh và sử dụng
biển người, và hạ thấp vai trò của không quân. Đây là một trong
những lý do khiến số binh sĩ chết nơi trận địa lên rất cao.
Cuộc xâm lấn của Trung Quốc cũng phụ thuộc vào việc nhanh chóng chiếm được Cao Bằng.
Nhưng
hai mũi tấn công không đến được mục tiêu trong vòng 24 tiếng.
Khu vực đồi núi cùng kháng cự của dân quân Việt Nam tạo ra khó
khăn lớn.
Việc đi chậm khiến Xu Shiyou,
lãnh đạo cánh quân Quảng Tây, phải hoãn cuộc tấn công vào Cao
Bằng, mặc dù phó tướng Wu Zhong đã đến sát thành phố này ở
mạn phía đông và nam.
Đến ngày 23-2, Trung
Quốc chiếm được Cao Bằng sau khi nhận ra nơi này chỉ có một số
lượng nhỏ quân Việt Nam cố thủ.
Nhưng sự
chậm chân khi chiếm Cao Bằng ngáng trở kế hoạch ban đầu của
Trung Quốc, vốn nhấn mạnh việc tác chiến nhanh và quyết liệt.
Quân đội Việt Nam phân nhỏ thành nhiều đơn vị, và phản công theo lối du kích.
Bắc
Kinh ngày càng trở nên lo ngại về tiến trình cuộc chiến, và
hối thúc tư lệnh Quảng Tây mở cuộc tấn công vào Lạng Sơn càng
sớm càng tốt.
Trận đánh Lạng Sơn bắt đầu
ngày 27-2, và khu vực mạn bắc của thành phố này bị Trung
Quốc chiếm được vào ngày 2-3. Đây cũng là ngày mà theo kế
hoạch Trung Quốc sẽ dừng hoạt động quân sự.
Vì
bộ máy tuyên truyền của Hà Nội không thừa nhận thất bại ở
Lạng Sơn, Xu quyết định tiếp tục tấn công, với mục đích chiếm
toàn bộ Lạng Sơn rồi hướng về Nam, tạo thành vị trí đe dọa
Hà Nội.
Mặc dù Bắc Kinh đồng ý với
quyết định của Xu, nhưng họ loan báo rút quân vào hôm 5-3, ngay
sau khi quân Trung Quốc chiếm phần phía nam của Lạng Sơn và tuyên
bố đã hoàn thành mục tiêu mà họ đặt ra.
Số thương vong
Cuộc chiến năm 1979 là hoạt động quân sự lớn nhất của Trung Quốc kể từ chiến tranh Triều Tiên.
Theo
số liệu của nước này, họ đã huy động chín đội quân chính quy
cùng các đơn vị địa phương quân, tổng cộng tương đương 300.000
quân.
Cho đến nay, Việt Nam công bố không
nhiều các tư liệu liên quan cuộc chiến, và các con số về thương
vong cũng khác nhau ở nhiều cuốn sách.
Phía
Trung Quốc có tiết lộ một phần nào. Ban đầu Bắc Kinh nói
20.000 lính Trung Quốc đã bị chết hoặc bị thương.
Một số nguồn học thuật hiện thời ước tính có thể có đến 25.000 lính trung Quốc bị chết và 37.000 bị thương.
Những nguồn tài liệu gần đây hơn của chính Trung Quốc thì nói 6900 lính nước này đã chết và 15.000 bị thương.
Dù
thế nào, số thương vong của Trung Quốc trong một cuộc chiến
ngắn ngày vẫn là cao, thể hiện một trong những truyền thống
quân sự của nước này: sẵn sàng chịu tổn thất nhân mạng khi nó
được xem là cần thiết.
Các nhà lãnh đạo
Trung Quốc xem thương vong là một tiêu chí tương đối không quan
trọng miễn là họ tin rằng họ chiếm ưu thế trong tình hình
chiến lược chung.
Vì sao Đặng Tiểu Bình đánh VN năm 1979?
Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình thăm Hoa Kỳ và họp báo với Tổng thống Jimmy Carter ngày 31/1/1979
Nhắc lại Chiến tranh
Trung - Việt 32 năm về trước, một số nguồn sử liệu gần đây nhấn mạnh
hơn đến vai trò riêng của lãnh tụ Đặng Tiểu Bình trong cuộc tấn công
Trung Quốc gọi là 'phản kích tự vệ'.
Trong phần gửi cho BBC hôm 16/2 vừa qua, ông
Dương Danh Dy, nhà ngoại giao Việt Nam từng làm việc tại Trung Quốc, có
nói đến cách nhìn cuộc chiến từ hai phía.Tuy nhiên, văn bản này còn cho biết thêm về vai trò quan trọng của ông Đặng Tiểu Bình trong quyết định đánh Việt Nam, trong bối cảnh quốc tế có cả quan hệ với Washington và Moscow.
Nay BBC Tiếng Việt khai thác thêm các góc độ trong tài liệu này và so sánh với một số đánh giá đã nêu từ trước về cuộc chiến 1979, sự kiện vẫn chưa được thảo luận công khai ở cả Việt Nam và Trung Quốc.
'Hoa Kỳ không tán thành'
Đặng Tiểu Bình được trích lời nói rằng ông đã tuyên bố dạy cho Việt Nam 'một bài học' trước đó, khi thăm Hoa Kỳ, mở đầu chiến lược kiên kết với chính quyền Carter, nhằm chống lại Moscow và các đồng minh, trong đó có Hà Nội.
Ông Đặng nói với các tướng lĩnh Quân Giải phóng rằng Hoa Kỳ không tán thành việc Bắc Kinh trừng phạt Hà Nội nhưng cũng giúp một ít tin tình báo.
Cuộc đưa quân sang Campuchia của Việt Nam khi đó cũng là chủ đề đáng được nhắc lại vì phía TQ cho rằng cuộc chiến 1979 chủ yếu để 'dạy cho VN một bài học' vì 'xâm lăng Campuchia', nước khi đó là đồng minh, và hiện nay cũng đang gần lại với Trung Quốc trong chiến lược Đông Nam Á của Bắc Kinh.
Trong bản dịch của học giả Dương Danh Dy nhân kỷ niệm 32 năm Chiến tranh Biên giới, ông Đặng tiết lộ:
"Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới( Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số,"
Có vẻ như chi tiết này khiến TQ tiến hành cuộc chiến họ gọi là 'Đối Việt tự vệ phản kích chiến' nhanh chóng và sau khi tàn phá sáu tỉnh biên giới của VN thì rút quân về:
"Ba phần tư binh lực Liên Xô bố trí tại châu Âu, nên muốn tấn công Trung Quốc qui mô lớn thì phải chuyển dời trọng điểm chiến lược, ít nhất phải điều 1 triệu quân từ châu Âu về, việc này không kịp vì thời gian hành động của chúng ta không dài."
Những người lính Trung Quốc hành quân trong cuộc chiến
Với giới trí thức bên ngoài, kể cả ở Phương Tây, cuộc chiến ngắn ngày nhưng dữ dội là một cột mốc quan trọng để đánh giá Trung Quốc trong quá trình tìm con đường mới, thoát khỏi thời kỳ tự cô lập của Mao Trạch Đông, và xác định vị trí trên trường quốc tế.
Vai trò quyết định
Trong một nghiên cứu hồi 2010, tác giả Trương Tiểu Minh từ U.S. Air War College, Hoa Kỳ cho rằng ông Đặng có vai trò cá nhân nổi bật trong quyết định đánh Việt Nam.
Theo ông, nhìn từ quan điểm của ban lãnh đạo TQ khi đó thì có ba yếu tố khiến bối cảnh xảy ra cuộc chiến trở nên khả thi.
Đó là quan hệ đặc biệt giữa Moscow và Hà Nội sau hiệp định 1978; vai trò thống trị của Việt Nam ở Đông Dương và quan hệ xấu đi nghiêm trọng giữa Bắc Kinh và Hà Nội.
Còn về nội bộ, theo TS Trương, chính việc thăng chức của ông Đặng Tiểu Bình, từ vị trí phó thủ tướng khi Mao chết năm 1976, lên chức vụ cao nhất, nắm Quân uỷ Trung ương tại Hội nghị Trung ương 3, Ban Chấp hành Trung ương khóa 11 của Đảng Cộng sản Trung Quốc, là yếu tố quyết định cho việc đánh VN.
Trong bài dịch của học giả Dương Danh Dy, ông Đặng tỏ ra có quan điểm thù ghét Việt Nam một cách khác thường.
Trong phát biểu ngày 16/3/1979, ông được trích lời nói:
"Đồng thời khi kinh doanh chuyện chống đối Trung Quốc, Việt Nam đã đánh nhau nhiều năm, ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế."
Một số nhà quan sát đã từng cho rằng ông Đặng phụ trách chuyện viện trợ của TQ cho Hà Nội thời chiến tranh Mỹ - Việt nên cảm thấy bị 'phản bội' bởi thái độ quay sang Liên Xô của nước Việt Nam cộng sản sau chiến tranh.
Vì thế, quyết định trừng phạt của ông được nói rõ:
"Nó cũng nghĩ là cậy hiệp ước này kéo Liên Xô xuống nuớc, cũng cậy có hiệp ước này cho rằng chúng ta không dám áp dụng trừng phạt qui mô tưong đối lớn. Ngay trước khi chúng ta ra quân mấy ngày nó còn dự đoán rằng chúng ta chỉ có hành động phạm vi nhỏ hai sư đoàn. Chúng ta hạ quyết tâm này đúng là đã tỉnh táo đánh giá phản ứng của phía bắc lớn đến đâu."
Các nguồn tin của phía Việt Nam, chẳng hạn như lời kể của cựu đại tá Bùi Tín, cho rằng mâu thuẫn giữa ông Lê Duẩn và Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình lên cao trước khi xảy ra cuộc chiến năm 1979.
Một số giới tại Việt Nam tin rằng ban lãnh đạo Bắc Kinh không thực sự muốn hai miền Nam Bắc VN thống nhất dưới sự lãnh đạo của Hà Nội.
Ngoài ra, trong dư luận Việt Nam có niềm tin rằng Trung Quốc chỉ lợi dụng tình thế để kiếm lợi về địa chính trị và cả lãnh thổ, với bằng chứng là vụ đưa quân chiếm Hoàng Sa năm 1974 từ tay Việt Nam Cộng Hòa.
Cố vấn an ninh Brzezinski đưa ra chiến lược lôi kéo Trung Quốc
Về vai trò của Mỹ, các bình luận cho tới nay phần nhiều đồng ý rằng chiến lược lôi kéo Trung Quốc để bao vây Liên Xô của cố vấn an ninh Zbigniew Brzezinski là yếu tố cơ bản để Washington liên kết với Bắc Kinh trong vấn đề Đông Dương.
Điều này cũng được chính giáo sư Brzezinski, người gần đây lại một lần nữa kêu gọi chính quyền Obama xây đắp trở lại quan hệ với Trung Quốc, xác nhận trong nhiều bài viết và sách của ông.
Đổi lại, Trung Quốc được mở lối vào lại với Phương Tây để hiện đại hóa nền kinh tế nhờ các thí điểm về đầu tư tư bản và công nghệ.
Về phía Hoa Kỳ, chiến lược Brzezinski tạo liên minh không tên với Trung Quốc khiến Washington phá vỡ khối xã hội chủ nghĩa châu Á mà không phải tham chiến.
Chiến tranh Biên giới 1979 và cuộc chiến Việt Nam - Campuchia đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử phong trào cộng sản quốc tế này, xung đột quân sự nổ ra giữa các nước cùng ý thức hệ.
Kế hoạch Bốn Hiện Đại hóa của Trung Quốc cuối thập niên 1970, đầu 1980 có cả phần về quân sự.
Và dù thiệt hại nặng trong cuộc chiến biên giới, Quân Giải phóng Trung Quốc đã rút kinh nghiệm trong việc tổ chức và tiến đến hiện đại hóa.
Việc tăng cường quân bị theo mô hình dùng không quân, hải quân và tên lửa nhiều hơn bộ binh, lực lượng chịu nhiều thiệt hại năm 1979, khiến Trung Quốc ngày nay trở thành một cường quốc khu vực với tham vọng toàn cầu.
Còn với Việt Nam, ngoài thiệt hại nghiêm trọng về vật chất ở các tỉnh biên giới phía Bắc, xung đột vẫn kéo dài, gây chảy máu nền kinh tế.
Cuộc chiến và việc đóng quân lại Campuchia cũng khiến Hà Nội bị cô lập nhiều năm về chính trị và kinh tế.
10 năm sau, cùng thời gian cách mạng dân chủ rung chuyển Đông Âu, ban lãnh đạo Việt Nam đã lại ngả sang Bắc Kinh qua cuộc gặp Thành Đô, tạo ra một loạt hệ luỵ mới cho quan hệ song phương tới ngày nay.
Vấn đề biên giới trên bộ và trên biển dần dần được giải quyết nhưng hòa bình qua đường biên giới, giao thương tăng nhanh với phần lợi nghiêng về Trung Quốc, vẫn chưa thực sự đem lại hòa giải giữa hai nước.
Việc các trang mạng cá nhân và blog ở Việt Nam nhắc lại nhiều về cuộc chiến 1979 cho thấy giới trí thức e ngại Trung Quốc vẫn muốn lên tiếng, trong khi truyền thông chính thức không đả động gì đến chủ đề lịch sử này.
Tiết lộ mới về cuộc chiến 1979
| Ngày 17-2-1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam |
Đúng 27 năm trước đây, ngày 17-2-1979, Trung Quốc đưa quân tràn qua biên giới Việt Nam sau nhiều tuần căng thẳng.
Trong
nhiều năm, nguồn tư liệu của phía Trung Quốc về cuộc chiến
vẫn thuộc vào hàng danh sách mật, và thông tin chính thức chỉ
có lẻ tẻ.
Tuy vậy, gần đây nhiều tư liệu
lưu hành nội bộ về cuộc chiến năm 1979 đã được công bố, cộng
thêm một số hồi ký của các sĩ quan cao cấp.
Một
trong những câu hỏi chưa có lời giải đáp chi tiết là khi nào
và làm thế nào Bắc Kinh đã ra quyết định có hành động quân
sự chống Việt Nam.
Những tư liệu mới
Trong
hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu,
nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về "cách giải
quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng" đã diễn
ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc.
Sự
tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề
xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung
đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, ráp gianh Quảng Tây.
| Tư liệu mới đặt giả thiết Trung Quốc ra quyết định trước khi Việt Nam tấn công Campuchia |
Nhưng
theo hồi kí của Zhou Deli, sau khi nhận được tin tình báo cho
biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho
rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và
tình hình Đông Nam Á.
Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.
Mặc dù cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó.
Tháng
11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore.
Trong chuyến đi, ông Đặng nói với các vị chủ nhà rằng Trung
Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia.
Ngày
7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở
một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung
Quốc.
Ngày hôm sau, họ ra lệnh cho các Quân
khu Quảng Châu và Côn Minh tiến hành chiến dịch và chuẩn bị
quân đầy đủ trước ngày 10-1-1979.
Chỉ thị
nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong
phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần.
Trong
một nghiên cứu có thể nói là mới nhất về cuộc chiến Việt
Trung 1979, vừa ra mắt tháng 12 năm ngoái, tác giả Xiaoming Zhang
bình luận rằng thời điểm ra lệnh này chứng tỏ Trung Quốc phản
ứng trước cuộc tấn công sắp xảy ra của Việt Nam vào Campuchia.
Nhưng việc mở chiến dịch quân sự cả trước khi quân Việt Nam
vượt qua sông Mêkông cũng cho thấy phản ứng của Bắc Kinh xuất
phát từ nhiều năm bực bội vì hành vi của Việt Nam mà họ cho
rằng đã "vô ơn" trước sự giúp đỡ trước đây.
Quyết định cụ thể
Tư
liệu mới cho biết trong một cuộc họp vào ngày cuối năm 1978,
Đặng Tiểu Bình chính thức đề nghị một cuộc chiến chống Việt
Nam.
Tại cuộc họp này, ông Đặng bổ nhiệm
Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ
Vân Nam. Quyết định này đã bỏ qua Wang Bicheng, lãnh đạo Quân
khu Côn Minh.
Không có một sự lãnh đạo tập trung, hai quân khu này sẽ tác chiến độc lập, gần như không có sự hợp tác.
Cuộc
họp cũng nhắc lại rằng cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ
quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.
Ngay sau cuộc họp, Đặng Tiểu Bình gửi hai sĩ quan cao cấp đến Vân Nam và Quảng Tây kiểm tra tình hình.
Lo lắng trước sự trễ nải của quân lính, người kiểm tra ra đề nghị hoãn cuộc tấn công thêm một tháng.
Người
kiểm tra này, Zhang Zhen, viết trong hồi kí năm 2003 rằng cấp
trên đồng ý hoãn cuộc tấn công đến giữa tháng Hai 1979.
Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2.
Hai
ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm
11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2.
Lệnh này được gửi đến Quảng Tây và Vân Nam.
Nhiều nhà quan sát trước đây đã phân tích vì sao Trung Quốc chọn thời điểm này.
Có
vẻ nó liên quan đến yếu tố thời tiết: sẽ khó khăn nếu đưa
quân tác chiến vào mùa mưa, thường bắt đầu từ tháng Tư, và
cũng không ổn nếu tấn công quá sớm khi quân Liên Xô có thể vượt
dòng sông băng dọc biên giới Xô - Trung.
| Ngày 17-2-1979, Trung Quốc tấn công Việt Nam |
Sau
khi cuộc chiến ngắn ngày kết thúc, tất cả các đơn vị Trung
Quốc tham chiến phải viết tường trình về kinh nghiệm chiến
trường.
Trong vấn đề tổng kết cuộc chiến, Trung Quốc ở trong tình thế khó xử.
Một
mặt, họ tuyên bố mình đã chiến thắng, nhưng đồng thời cũng
phải thừa nhận những tổn thất mà quân Trung Quốc đã hứng
chịu.
Ban
lãnh đạo Trung Quốc cảm thấy cần phải có sự đánh giá khách
quan tình hình. Tuy nhiên, tinh thần ái quốc và thành kiến văn
hóa cũng khiến họ không đưa ra được những kết luận hoàn toàn
khách quan.
Trong bài viết mới nhất về
chủ đề này đăng trên tạp chí China Quarterly tháng 12-2005, tác
giả Xiaoming Zhang cho biết quân đội Trung Quốc đã rút ra sáu
bài học từ cuộc chiến 1979.
Thứ nhất, họ
kết luận mọi chiến lược và quyết định quân sự đúng đắn phụ
thuộc việc nắm bắt mọi khía cạnh của tình hình.
Cuộc
chiến biên giới 1979 cho thấy Trung Quốc không mấy chú ý đến
chiến thuật và học thuyết quân sự của Việt Nam trước khi tấn
công. Vì thế, họ đánh giá thấp khả năng của đối phương.
Mặc
dù chê Việt Nam thiếu khả năng tấn công và phòng thủ, nhưng văn
bản chính thức của Trung Quốc cũng thừa nhận chiến thuật du
kích và dân quân Việt Nam đã khiến Trung Quốc bị bất ngờ.
Bài
học thứ hai là phải thu thập đầy đủ thông tin về tình báo.
Sự đánh giá địa hình địa vật của Trung Quốc thường dựa theo
các bản đồ đã quá cũ, trong khi khả năng dò thám trên chiến
trường lại cũng hạn chế.
Ngoài ra, Trung
Quốc cũng tính nhầm số lượng các dân quân Việt Nam. Ban đầu,
Bắc Kinh nghĩ tỉ lệ quân đội tham chiến giữa hai bên sẽ là 8-1.
Nhưng kết quả, riêng tại Cao Bằng có tới 40.000 - 50.000 dân quân Việt Nam, khiến tỉ lệ giảm chỉ còn 2-1.
Nâng cao khả năng
Bài học thứ ba Trung Quốc rút ra từ cuộc chiến liên quan đến khả năng tác chiến.
Đây
là lần đầu tiên quân đội Trung Quốc thực hiện tác chiến với
sự kết hợp của xe tăng, pháo binh, cộng với không quân và thủy
quân.
| Trong mấy năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa quân đội |
Nhưng sự lạc hậu trong học thuyết và chiến thuật khiến quân đội không có sự phối hợp cần thiết.
Thành
kiến đối với khả năng của không quân khiến binh chủng này không
có đóng góp gì vào cuộc chiến ngắn ngày. Trên mặt đất, quân
đội cũng chứng tỏ khả năng hợp tác kém giữa bộ binh, xe tăng
và pháo binh.
Kinh nghiệm năm 1979 dạy cho Trung Quốc những bài học về kỹ năng điều phối và hợp tác giữa các binh chủng.
Bài học thứ tư là vấn đề về chỉ huy và kiểm soát.
Quan hệ cá nhân giữa các sĩ quan và quân đoàn vẫn đóng vai trò lớn hơn các quan hệ dựa trên những định chế.
Vì
thế sau này lãnh đạo Quân khu Quảng Châu thừa nhận họ không
thoải mái khi chỉ huy số quân được chuyển từ Vũ Hán và Thành
Đô trong chiến dịch.
Bài học thứ năm là
việc chứng tỏ Trung Quốc phải cải thiện hệ thống cung cấp hậu
cần để hỗ trợ cho một chiến dịch xa nhà.
Vì
thiếu kho bãi và thiết bị vận chuyển, hai Quân khu Quảng Châu
và Côn Minh phải tự lập ra một hệ thống hậu cần mà không bao
giờ hoạt động thật hiệu quả.
Khi quân đội
tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam, các sĩ quan hậu cần cũng
thấy rằng phải nhờ thêm viện quân để bảo vệ tuyến đường liên
lạc.
Bài học cuối cùng liên quan tầm quan trọng của việc tuyên truyền và vận động nhân dân hỗ trợ cuộc chiến.
Kinh
nghiệm năm 1979 cho thấy một số lượng khổng lồ lính chính quy
Trung Quốc gần như không thể tác chiến ở nước ngoài nếu không
có sự ủng hộ của thường dân trong nước.
Bộ
máy tuyên truyền của Bắc Kinh đã cổ vũ tinh thần yêu nước và
lòng tự hào trong nhân dân. Kết quả, chỉ riêng ở Quảng Tây, hơn
215.000 thường dân được huy động để khuân vác, bảo vệ hàng hóa
chở ra trận địa.
Dĩ nhiên, ngày hôm nay
không ai nghĩ rằng quân đội Trung Quốc sẽ lặp lại những gì đã
làm trong cuộc chiến năm 1979 với Việt Nam.
Tuy
vậy, một số điểm từ cuộc chiến này vẫn có thể có ích để
nhìn nhận và đánh giá những chiến lược của quân đội Trung
Quốc.
Một kinh nghiệm rút ra là các lãnh
đạo Trung Quốc tính toán rất kỹ về việc khi nào cần dùng sức
mạnh quân sự, nhưng họ không ngần ngại mở cuộc chiến nếu họ
nghĩ rằng quyền lợi quốc gia bị đụng chạm.