Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Những vấn đề trọng yếu đối với người trẻ hiện nay.


Đối mặt 3 cuộc khủng hoảng lớn
- Thưa anh, miêu tả bối cảnh chung hiện nay, chắc hẳn "khủng hoảng" là từ thường xuyên được dùng. Nhưng có vẻ kinh tế không phải là khủng hoảng duy nhất của Việt Nam. Đối với riêng giới trẻ, theo anh những khủng hoảng mà họ đang và sắp phải đối mặt là gì?
TS Giáp Văn Dương: Đúng là đang xảy ra khủng hoảng trên quy mô rộng. Trong đó khủng hoảng kinh tế là nổi bật nhất, vì hậu quả của nó rõ ràng nhất, và được nhắc đến nhiều nhất trên các phương tiện truyền thông đại chúng.
Nhưng khủng hoảng kinh tế cũng có thể được coi là hệ quả của các loại khủng hoảng khác, như khủng hoảng mô hình phát triển chẳng hạn. Vì thế, đằng sau cơn khủng hoảng kinh tế đang hoành hành, là rất nhiều vấn đề lớn khác cần được mổ xẻ.
Với Việt Nam, câu chuyện còn phức tạp hơn, vì khủng hoảng ở Việt Nam còn thể hiện rõ ràng ở nhiều lĩnh vực khác ngoài kinh tế, như giáo dục, đạo đức, thang giá trị, v.v...
Xét riêng với người Việt trẻ, thì bên cạnh những khó khăn về cơm áo gạo tiền mà cuộc khủng hoảng kinh tế gây ra, họ còn đối mặt với các cuộc khủng hoảng vô hình khác. Tuy chúng âm thầm hơn, nhưng sức tàn phá có khi còn ghê gớm hơn cả những khó khăn về kinh tế. Chẳng hạn, khủng hoảng niềm tin và các thang giá trị.
Cụ thể là hiện đang tồn tại những bộ giá trị mâu thuẫn nhau và người trẻ không biết ứng xử thế nào cho phải trước các thang giá trị đó. Những giá trị truyền thống thì một thời đã bị coi là tàn dư của phong kiến lạc hậu, nên bị "nhổ tận gốc, trốc tận dễ" và chưa thể phục hồi. Những giá trị phổ quát của thế giới đương đại, như tự do, dân chủ, nhân quyền... khi về Việt Nam nhiều khi lại bị gán cho những nhãn mác ngoại lai, thù địch, lai căng.
Từ sự nhập nhằng của các thang giá trị này, sẽ dẫn đến khủng hoảng niềm tin với người trẻ, tức là không còn tin và không biết tin vào cái gì cả. Họ thấy mọi thứ đều nhảm nhí và sáo rỗng. Nhiều người trong số họ thậm chí còn đi xa hơn, thấy ngay cả sự tồn tại của mình cũng là một điều vô nghĩa. Số các vụ tự tử, gây án, phá phách của giới trẻ tăng lên là một minh chứng cho điều này.
TS Giáp Văn Dương
Nối tiếp, và cũng là hệ quả của sự khủng hoảng thang giá trị và niềm tin, là sự khủng hoảng về việc định vị vai trò của bản thân trong xã hội. Muốn hay không, xã hội Việt Nam vẫn mang nặng truyền thống văn hóa phương Đông, ở đó thứ bậc, trật tự từ trong gia đình, đến công sở, xã hội nói chung, vẫn là một thực tế phổ biến.
Trong cái trật tự đó, người trẻ không định vị được vị trí của mình vì bản thân họ đang chịu thiệt, và cũng không thấy trật tự đang tồn tại là khả tín. Nhưng một trật tự mới để thay thế thì lại chưa định hình.
Không còn tin vào trật tự cũ không phải vì họ không có lý tưởng, mà vì trước hết đó là bản tính của tuổi trẻ, và thứ hai là bản thân trật tự đó đã không còn sức thuyết phục. Nếu mọi thứ đều tốt thì đã không có khủng hoảng.
Khủng hoảng chính là triệu chứng của các vấn đề xã hội, là điềm báo của một sự thay đổi sẽ đến. Nhưng thoát ra khỏi khủng hoảng như thế nào, và làm chủ sự thay đổi ra sao, thì họ không biết, và cũng không đủ sức, vì sự nhỏ bé của mỗi cá nhân, và sức nặng của quán tính xã hội đè lên vai họ.
Như vậy chỉ xét sơ bộ, người Việt trẻ đang phải đối đầu với ba cuộc khủng hoảng lớn: khủng hoảng kinh tế; khủng hoảng niềm tin và các thang giá trị; và khủng hoảng định vị mình trong xã hội.
- Trong khủng hoảng, liệu có cơ hội nào cho người trẻ tạo nên những biến chuyển lớn mà thế hệ đi trước chưa làm được? Và muốn làm được điều đó, người trẻ phải bắt đầu từ đâu?
Khủng hoảng là chỉ dấu cho thấy cần phải có một sự thay đổi. Và mỗi sự thay đổi đều phải trả một chi phí chuyển đổi nhất định. Theo góc nhìn lạc quan thì phí chuyển đổi trong khủng hoảng là thấp nhất. Do đó, khủng hoảng chính là cơ hội cho người trẻ thay đổi, là thời điểm của những lựa chọn có tính chiến lược, trên bất kể quy mô nào.
Sự thay đổi này trước hết đến từ một sự phản tư về vai trò của mình trong xã hội. Từ sự phản tư này, người trẻ sẽ tự xác lập lại các thang giá trị và niềm tin cho mình, từ đó định vị được vị trí của mình trong xã hội.
Có thể thấy người trẻ hiện là lực lượng chủ đạo tại những nơi mà đời sống đang diễn ra sôi động nhất. Dù đó là đời sống kinh tế như trong các trung tâm mua sắm lớn; đời sống văn hóa như trong các biểu diễn, triển lãm nghệ thuật; hay đời sống học thuật trong các trường, viện nghiên cứu.
Tương tự, nếu đi vào những nơi hiện đại nhất, có mức độ hội nhập cao nhất, thì sẽ thấy lực lượng chủ đạo ở trong đó là người trẻ. Ngay cả trong khu vực sản xuất và dịch vụ, người trẻ cũng đang là lực lượng chủ lực.
Với một dân số trẻ có tuổi trung bình chưa đến 30 thì việc người trẻ là lực lượng chủ lực của mọi hoạt động trong xã hội là điều tất yếu. Người trẻ đang chiếm lĩnh tiền phương và hậu phương của sự phát triển. Người trẻ đang nắm giữ tương lai của đất nước này.
Nhưng người trẻ chưa có được vị thế xứng đáng với vai trò của họ trong xã hội. Họ không có quyền năng tương xứng với đóng góp của họ trong xã hội. Trật tự hiện thời không ủng hộ họ, không tạo điều kiện cho họ được thể hiện mình. Nói cách khác, ở mọi cấp độ, họ bị hạn chế hoặc không được quyền tham gia định đoạt số phận của chính mình.
Vì thế, một sự thay đổi với người trẻ chỉ có thể đến từ một sự thức tỉnh về vai trò của mình, về vị trí xứng đáng của mình trong xã hội. Đó là vị trí dẫn đầu xã hội. Đó là tiền tuyến của sự phát triển. Chỉ khi đó, người trẻ mới tự tin làm chủ cuộc đời mình, chủ động tham gia hoặc đấu tranh để được tham gia, định đoạt số phận mình. Chỉ khi đó họ mới có thể đóng góp vào sự triển của đất nước một cách tự tin và hiệu quả.
Với cách nhìn đó, khủng hoảng chính là cơ hội của người trẻ. Vấn đề là người trẻ có ý thức được điều đó không, và có đủ tự tin để gánh vác công việc thay đổi đó.
Sống hay tồn tại?
- Có ý kiến cho rằng giới trẻ ngày nay được nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ vật chất, được chiều chuộng hơn xưa rất nhiều. Do đó, khả năng sinh tồn và đương đầu với khó khăn của họ cũng suy giảm. Quan điểm của anh về vấn đề này ra sao? Những thách thức mới mà người trẻ phải đối mặt có gì khác biệt và giáo dục đã hỗ trợ họ chuẩn bị tâm thế hiệu quả đến đâu?
Nếu đặt trọng tâm của đời sống người Việt trẻ vào chuyện sinh tồn, thì đó là một cách đặt vấn đề sai ngay từ đầu. Người trẻ phải đặt mục tiêu cuộc đời mình cao hơn sự sinh tồn. Con chim trên trời, con cá dưới nước không có trí tuệ, không được học hành đào tạo gì mà vẫn có thể sinh tồn rất tốt đó thôi. Vì thế, với một con người, nhất là với người trẻ, vấn đề là sống, chứ không phải sinh tồn.
Mỗi người đều phải vác cây thập giá của chính mình. Thời nào cũng đều có cái khó, cái khổ của thời ấy. Về vật chất người trẻ hiện nay có thể đầy đủ hơn ngày xưa. Nhưng xét về tổng thể, người trẻ hiện nay không hẳn đã sướng hơn xưa.
Thế giới bên ngoài đã đổi thay quá nhanh và quá lớn, người trẻ phải đương đầu với chuyện đó. Giá trị thì quá nhiều, thật giả đúng sai lẫn lộn, thiêng liêng và nhảm nhí pha trộn với nhau, cống hiến và trục lợi hòa quyện vào nhau. Riêng việc tách lọc những thứ đó cho ra ngô ra khoai đã là quá mệt.
Khủng hoảng là cơ hội cho người trẻ tạo ra những chuyển biến. Ảnh minh họa
Ngoài ra, nếu các thế hệ trước chỉ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng thiếu, tức thiếu mọi thứ, thì ngày nay một phần người trẻ còn phải đương đầu với cả khủng hoảng thiếu và thừa. Thiếu những thứ thiêng liêng và thừa những điều nhảm nhí. Thiếu cái cao cả mà thừa cái vụn vặt đời thường. Như trong lĩnh vực thông tin chẳng hạn, ngày xưa thiếu thông tin về mọi mặt, thì ngày nay lại vừa thừa vừa thiếu: thừa thông tin mà thiếu tri thức, nên chỉ riêng việc gạn ra những gì cần đọc trong một rừng tin tức cũng là điều quá mệt.
Tôi biết có rất nhiều người đang dành nhiều thời gian và sức khỏe để ngày ngày nhặt rác đổ vào đầu mình mà cứ ngỡ đang làm giàu tri thức. Tin rác giờ hiện là chủ đạo, trong khi thông tin thực sự thì lại quá hiếm, lại thường xuyên bị bóp méo và kiểm duyệt chặt chẽ, nên ngộ độc thông tin, ngộ độc những điều nhảm nhí, cũng là một điều cần phải cảnh giác.
Thừa thông tin nhưng thiếu tri thức. Nhặt được vàng trong bãi rác quả thực không phải là việc dễ.
Nói như vậy để thấy, không phải vì được "chiều chuộng" mà người trẻ đánh mất khả năng sinh tồn, đánh mất khả năng đương đầu với khó khăn. Mấu chốt là ở việc người trẻ đã không được chuẩn bị cho việc phải sống trong môi trường mới khi hoàn cảnh đã thay đổi. Vì thế, người trẻ đã đánh mất tính chủ động và năng động của mình.
Đến đây ta thấy hé lộ vai trò của giáo dục. Lý do là giáo dục đã quá lạc hậu so với xã hội. Giáo dục không giúp cho người trẻ có được sự tự tin chủ động, tinh thần tự do bay bổng, và trên hết là không giúp người trẻ định hình được một cách rõ ràng những phẩm chất cần có của một con người đích thực.
Ngược lại, giáo dục lại đào tạo theo lối rập khuôn, tạo ra đồng loạt những con người chỉ biết phục tùng, nên đương nhiên người trẻ sẽ đánh mất sự tự tin và tính chủ động trong việc định đoạt cuộc đời mình, và gặp khó khăn trong cuộc cạnh tranh với thế giới bên ngoài.
Người trẻ là sản phẩm mới nhất của nền giáo dục đó, nên người trẻ hụt hơi so với xã hội là điều tất yếu.
- Anh từng chia sẻ, chính giáo dục cũng đang khủng hoảng nên chẳng thể cứu được giới trẻ. Nhưng dù thế nào, giáo dục Việt Nam cũng không thể không thay đổi. Vậy để góp phần kiến tạo một thế hệ trẻ tự tin, vững vàng, theo quan điểm của anh, giáo dục nên bắt đầu từ những thay đổi nào?
Giáo dục cần phải bắt đầu từ việc xác định lại mục đích của chính mình. Đó là cần phải hướng đến việc tạo ra những con người tự do chứ không phải những cá nhân chỉ biết vâng lời.
Các nhà giáo dục cũng cần phải nhìn nhận lại mình, xem mình có thực sự là các nhà giáo dục, hay chỉ là công cụ của một trật tự cũ, một quán tính cũ.
Nói cách khác, giáo dục cần phải hướng đến việc giải phóng con người chứ không phải là đày đọa con người. Mà muốn thế, bản thân giáo dục và các nhà giáo dục lại cần phải được giải phóng trước.
Câu chuyện đến đây đã rẽ sang một chiều hướng khác. Nếu nói tiếp thì e là quá dài. Đành xin bạn hẹn một lần khác vậy.
Hải Tâm (thực hiện)những chia sẻ, trăn trở của TS Giáp Văn Dương. Từng du học và giảng dạy tại các nền giáo dục tiên tiến như Hàn Quốc, Anh, Singapore..., góc nhìn của TS Giáp Văn Dương nhằm góp phần soi tỏ những vấn đề trọng yếu đối với người trẻ hiện nay.


Giới trẻ 'nghèo' nhất tài sản gì?

Để định vị vững vàng, người trẻ phải tự mình đối diện và giải quyết khủng hoảng lớn nhất - khủng hoảng niềm tin.
LTS: Trong bối cảnh đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn, đất nước và xã hội càng cần đến vai trò, sức sống, tài năng của người trẻ để kiến tạo những biến chuyển mới. Đó chính là lý do Tuần Việt Nam tổ chức đề tài Định vị người trẻ thời khủng hoảng.
Mở đầu cho loạt bài này, chúng tôi trân trọng giới thiệu đến độc giả góc nhìn của một người trẻ cũng đang trên hành trình tìm kiếm con đường định vị bản thân trong cuộc sống và sự nghiệp. Tác giả bài viết dưới đây thuộc thế hệ 8X, từng học đại học và có thời gian làm việc tại Việt Nam, hiện đang du học tại Đan Mạch.
Cách đây vài năm, ngôn ngữ thời @ xuất hiện một thành ngữ thông dụng: sống bằng niềm tin. Anh không có tiền - sống bằng niềm tin, anh không có nhà - sống bằng niềm tin, v.v... Đại loại, ý nghĩa của nó là nếu không có một số thứ (hoặc hoàn toàn không có gì), thì anh chỉ có nước lôi niềm tin ra làm vốn sống.
Trớ trêu thay, thứ tưởng như ai cũng có lại là thứ thiếu nhất trong cuộc sống hiện tại. Thế hệ trẻ hiện nay đang đối diện với một cuộc khủng hoảng niềm tin, mà ngoài chính họ ra không ai khác có thể giải quyết được.
"Thế hệ mất mát"
Những ai từng đọc Ernest Hemingway có lẽ đều biết đến Lost Generation - tạm dịch là "thế hệ mất mát". Cụm từ này chỉ những người đi ra từ Chiến tranh Thế giới thứ nhất và cảm thấy lạc lõng, mất phương hướng trong cuộc sống hiện tại. Với họ, chiến tranh đã phá vỡ hoàn toàn lý tưởng mà họ có trước đó, trong khi niềm tin mới chưa hình thành.
Những thế hệ đứng giữa sự chuyển mình của thời đại thường gặp phải vấn đề về lý tưởng sống như vậy. Đó là lớp thanh niên phương Tây với phong trào hippie trong thập niên 1960-1970, là cuộc nổi loạn của giới trẻ Nhật Bản hơn chục năm trước, hay gần đây nhất là phong trào Chiếm phố Wall trên quy mô toàn cầu.
Giới trẻ Việt Nam ngày nay, đứng trước những thay đổi chóng mặt của cuộc sống và xã hội, cũng không phải ngoại lệ.
Tốc độ phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh chóng, cùng với sự đón nhận cởi mở các giá trị từ bên ngoài đã tạo ra một không gian sống hoàn toàn mới cho giới trẻ. Quan hệ xã hội đã được cởi trói ra khỏi những ràng buộc địa lý, mở hơn, nhưng tất nhiên cũng phức tạp hơn.
Internet trở thành môi trường sống thứ hai của giới trẻ (nếu xét về mặt thời gian sử dụng, có lẽ nó phải môi trường số một). Ở đó, họ trải nghiệm những tự do không rào chắn mà cha ông ngày xưa trong mơ cũng không thể nghĩ đến.
Không gian vật chất thay đổi nhanh chóng khiến nhiều giá trị cũ lụi tàn, hoặc không cũng bị thách thức bởi thời cuộc.
Xã hội đòi hỏi khả năng làm việc thực chất, nhưng hệ thống giáo dục vẫn nặng về khoa cử, thành tích. Chúng ta nói về trọng người tài, nhưng chuyện chạy việc, chạy công chức, chạy biên chế dù không mấy người dám công khai nhưng ai cũng ngầm hiểu.
Chúng ta nói về liêm khiết và chính trực, nhưng tham nhũng và hối lộ ngày càng khó kiểm soát, len lỏi đến cả những hoạt động thường ngày như đi khám bệnh.
Chúng ta tuyên bố đề cao giá trị tinh thần, nhưng thực tế cuộc sống lại trơ trụi như một cô người mẫu nổi tiếng từng phát biểu, "không có tiền thì cạp đất mà ăn".
Đứng trước những mâu thuẫn đó, thật khó để thuyết phục người trẻ tin theo lời của "người lớn" về giá trị sống. Giới trẻ như bị kẹt giữa hai "làn đạn", như người đang đi trên dây giữa một bên là di sản niềm tin cũ đang mong manh, một bên là những tư tưởng dẫn đường mới chưa hình thành.
Người trẻ đang đối mặt với nhiều thách thức trong quá trình định vị bản thân. Ảnh minh họa
"Nhiều cách sống" [1]
Giới trẻ hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau với cuộc khủng hoảng tư tưởng mà có thể chính họ cũng không nhận ra.
Với một số người, giá trị sống ý nghĩa nhất là phải khẳng định được bản thân, theo nhiều cách: tham gia nhiều hoạt động nhất có thể, nỗ lực thăng tiến, hay chỉ đơn giản là kiếm được nhiều tiền. Vì thế nên giai đoạn "khủng hoảng tư tưởng" cũng là lúc xuất hiện nhiều những doanh nhân 8X, 9X thành đạt, dám nghĩ dám làm nhất, những nhà hoạt động xã hội trẻ tuổi xông xáo và nhiệt tình nhất.
Số khác mang trong mình "mầm mống nổi loạn", muốn bứt phá khỏi khuôn khổ gò bó. Đó là lúc phong trào "phượt" nở rộ, với không gian "xê dịch" thậm chí mở rộng tới những vùng đất xa xôi, như tác giả trẻ Huyền Chip của bộ sách "Xách ba-lô lên và đi". Lựa chọn "xê dịch" phần nào cho thấy cảm giác muốn tìm về chính mình, được cân bằng trong một không gian sống mới chưa định hình của giới trẻ.
Và cũng có bộ phận giới trẻ lựa chọn bấu víu vào những "giá trị ảo" làm lẽ sống: đó có thể là game online, âm nhạc, hay mạng xã hội. Từ chuyện những "fan cuồng" K-pop đến mức mắng chửi cả bố mẹ, hay những thanh niên sẵn sàng giết người chỉ để có tiền "cày" game, đều bắt nguồn từ sự tha hóa của lẽ sống.
Đi mãi sẽ thành đường
Dù lựa chọn cách sống nào, thì thực tế cũng là giới trẻ đang phải tự mình dò đường đi. Tất nhiên, trong một môi trường mở và thông thoáng hơn, thế hệ trẻ không thể mong đợi xã hội và nhà nước "dắt tay từng bước" như với đứa trẻ lên ba. Bản thân người trẻ cũng không bao giờ mong muốn như vậy.
Nhưng điều đó không có nghĩa là nên bỏ mặc họ đi trên dây khi chưa được học cách giữ thăng bằng. Làm vậy chẳng khác nào đẩy một con chim non chưa đủ lông cánh ra khỏi tổ tập bay.
Thay vào đó, hãy dạy nó cách kiếm ăn, cách tự bảo vệ mình, cách sống với đồng loại trước khi để nó lựa chọn những khoảng trời riêng của mình. Đáng buồn thay, có vẻ như chúng ta đang thiếu cả thời gian lẫn quyết tâm để hiện thực hóa điều đó.
Bên cạnh đó, có một tâm lý rất phổ biến hiện nay cho rằng giới trẻ đang đi lầm đường, không biết phân biệt phải - trái - đúng - sai, và xã hội cần phải tăng cường định hướng hơn nữa cho họ. Bản thân người viết cho rằng cách đó vô tác dụng. Bởi vấn đề của niềm tin phải được giải quyết bởi niềm tin, chứ không phải bằng ép buộc và kiểm soát.
Niềm tin chỉ được xây dựng trên nền tảng những hành động thực chất, những nỗ lực hữu hình. Hành động đó có thể bắt đầu từ những thay đổi trong hệ thống giáo dục, tuyển dụng người tài, cho đến những vấn đề vĩ mô hơn như giải quyết nạn tham nhũng hay gia tăng hiệu quả chính sách.
Không thể nói nhà nước tạo mọi điều kiện cho giới trẻ lập nghiệp, nếu như môi trường kinh doanh của nước ta luôn xếp hạng dưới trung bình trên toàn thế giới (thứ 99/185-theo Báo Cáo Môi Trường Kinh Doanh 2013 của World Bank), và đa phần doanh nhân trẻ phải tự xoay sở để gom vốn mà không hề biết đến sự tồn tại của quỹ hỗ trợ khởi nghiệp.
Không thể nói mở cửa cho người trẻ thể hiện tài năng, trong khi "đường vào" các cơ quan nhà nước vẫn muôn trùng cửa ải đối với những người không thuộc diện "hậu duệ, quan hệ, tiền tệ".
Và cần hơn cả là niềm tin của thế hệ đi trước vào thế hệ hiện tại. Hãy tin họ như thế hệ thanh niên thời chiến tranh nhận được niềm tin sẽ giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, hay thế hệ Đổi mới sẽ đưa VN thoát khỏi trì trệ. Thế hệ 8X, 9X cũng có đủ năng lực để chèo lái dân tộc đi đến những cột mốc mới.
Tin tưởng đồng nghĩa với việc hiểu rằng giới trẻ hiện nay khác với những người đi trước, và do vậy không thể áp đặt giá trị sống, lối tư duy cũ lên họ. Xã hội chỉ nên tạo ra điều kiện cần giúp họ phát triển thành những người trưởng thành, có lý trí, và đến lúc đó hãy để cho họ tự do suy nghĩ, lựa chọn con đường riêng của mình.
Lỗ Tấn từng nói, trước kia làm gì có đường, người ta đi mãi thì mới thành đường đó thôi. Nếu không để cho giới trẻ khám phá những con đường mới, thì sau này chúng ta lấy đâu ra đường để đi?
---------
[1] Nhiều cách sống: tên cuốn tiểu thuyết của nhà văn 8X Nguyễn Quỳnh Trang.

Thứ Hai, 18 tháng 2, 2013

Đại biểu Quốc hội đả phá đồng nghiệp "Tứ Đại Ngu"

Đại biểu Quốc hội từng gây tranh cãi, ông Hoàng Hữu Phước, vừa viết bài công kích gay gắt sử gia Dương Trung Quốc trên blog của mình, cũng như trên mạng của công ty ông.
Ông Dương Trung Quốc là đại biểu Quốc hội khóa XIII, đại diện cho cử tri Đồng Nai.
Ông Hoàng Hữu Phước, tổng giám đốc công ty cổ phần doanh thương Mỹ Á và là đại biểu của Thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên trang web Emotino.com một bài có tựa đề gây sốc: " Bấm Dương Trung Quốc - Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)".
Mục đích bài viết tấn công đồng nghiệp được ông Phước giải thích là "phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng".
Đây là lần đầu tiên đại biểu Quốc hội Việt Nam được biết có lời lẽ thóa mạ nhau nặng nề như vậy trên internet.
Điều mà ông Phước gọi là "nhất đại ngu" của ông Dương Trung Quốc là phát biểu của ông Quốc tại Quốc hội, rằng Việt Nam nên căn nhắc hợp pháp hóa mại dâm.
Theo ông Hoàng Hữu Phước, ông Dương Trung Quốc đã lầm lẫn các khái niệm nhân quyền và quyền công dân khi đề xuất như vậy.
"Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng quyền con người. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt."
Ông cho rằng ông Dương Trung Quốc "dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy".

'Hồ đồ, xằng bậy'

Đại biểu Hoàng Hữu Phước cũng chê trách đại biểu Dương Trung Quốc về điều mà ông gọi là "ăn nói hồ đồ và xằng bậy" khi ông Quốc cho rằng Việt Nam Cộng Hòa là chính thể đa đảng.
"Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ," ông Phước viết.
Điểm thứ ba, dường như là điểm tâm huyết của ông Hoàng Hữu Phước, là quan điểm của ông Dương Trung Quốc về Luật Biểu tình.
"Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan."
Đại biểu QH Hoàng Hữu Phước
Bản thân ông Phước, hồi tháng 10/2011, đã đăng đàn với một bài phát biểu được soạn sẵn chỉ trích gay gắt Luật biểu tình, đề nghị Quốc Hội loại bỏ Luật lập hội và Luật biểu tình khỏi danh sách dự án luật suốt nhiệm kỳ.
Ông đưa ra bốn lý do phản đối Luật biểu tình: thứ nhất, biểu tình bao giờ cũng chống lại chính phủ nước sở tại; thứ hai, quyền biểu tình xâm hại quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của người khác; thứ ba, Luật biểu tình không phản ánh nguyện vọng của nhân dân và cuối cùng, người dân Việt Nam chưa đủ trình độ dân trí để thực hiện quyền này.
Nay ông hướng mũi dùi sang ông Dương Trung Quốc, người mà ông nói đã có hành vi "nổi nóng" khi nghe phát biểu về biểu tình của ông.
Theo ông Phước, việc ông Quốc "nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu" là "chà đạp tự do ngôn luận”.
Ông cũng không ngần ngại gọi ông Dương Trung Quốc là "hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng".

Văn hóa từ chức

Điều cuối cùng mà ông Hoàng Hữu Phước chỉ trích ông Dương Trung Quốc, là việc tại kỳ họp hồi tháng 11/2012, ông Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn và đặt vấn đề văn hóa từ chức với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, "người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinalines".
Ông Phước viết: "Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là 'văn hóa từ chức' là một ví dụ".
Ông Dương Trung Quốc
Ông Dương Trung Quốc từng đề cập 'văn hóa từ chức' tại Quốc hội
"Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ 'văn hóa từ chức' với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là 'văn hóa'".
Ông dân biểu phân tích: "Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính".
"Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan."
Ông nói việc ông Quốc "dám đem việc Vinashin và Vinalines ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác,... đều thuộc dưới quyền Thủ tướng" là "loạn ngôn".
"Làm gì có cái 'văn hóa' và cái 'tinh thần trách nhiệm' trong cái gọi là 'từ chức' trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm," ông Phước kết luận.

Phản ứng của Dương Trung Quốc về bài “tứ đại ngu” của Hoàng Hữu Phước

Sau bài đả phá với lời lẽ đậm chất chợ búa của ông Hoàng Hữu Phước, ông Dương Trung Quốc đã chính thức có phản hồi trên BBC. Sự phản ứng khá nhẹ nhàng kiểu “không thèm chấp”. Ông nói: Tôi quan tâm đến ý kiến phản hồi của độc giả hơn là ý kiến cá nhân của ông Hoàng Hữu Phước.
Trong một hành động chưa có tiền lệ, đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước viết bài công kích gay gắt sử gia Dương Trung Quốc trên blog của mình.
Bài viết với lời lẽ nặng nề, gọi ông Quốc là "ăn nói hồ đồ, xằng bậy", "hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng"…
BBC đã hỏi chuyện đại biểu Dương Trung Quốc về bài viết này.
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Tôi cũng có theo dõi, kể cả qua BBC và một vài trang mạng nữa, các ý kiến của anh Hoàng Hữu Phước, đại biểu TP HCM.
Quan điểm của tôi là Quốc hội Việt Nam tuy chưa có khái niệm đối lập, nhưng sự khác biệt trong ý kiến thì càng ngày càng nhiều và sinh hoạt Quốc hội cũng khuyến khích chuyện này.
Bởi vì qua các khác biệt, các tranh luận, phản biện, chất lượng những quyết định của Quốc hội sẽ tốt hơn.
Vì thế, những vấn đề mà anh Phước nêu lên, tôi nghĩ, mang ra diễn đàn Quốc hội sẽ thích hợp hơn.
Viết trên trang mạng, blog riêng của anh ấy thì tôi không bình luận, chỉ có điều tôi cũng theo dõi ý kiến phản hồi của độc giả [trên các trang mạng và blog của ông Phước], mà tôi quan tâm hơn là ý kiến của cá nhân anh Phước.
Phản hồi của cử tri [của ông Phước] thế nào thì để họ nói hay hơn tôi, nhất là cử tri của một thành phố lớn, nhiều trí thức, là những người đã bầu ra anh Phước.
Đối với tất cả các đại biểu Quốc hội, tôi đều giữ sự tôn trọng. Ý kiến nào xác đáng thì tôi sẵn sàng lắng nghe, nhưng những ý kiến [nặng tính công kích cá nhân] như của anh Phước thì quả là không đáng quan tâm.
- BBC: Khi đọc bài viết ông có cảm thấy sốc không ạ, vì quả thực những ngôn từ mà ông Hoàng Hữu Phước sử dụng cũng hiếm thấy trên các blog thông thường, mà đây lại là blog mà ông Phước dùng để giao lưu với cử tri của ông ấy ạ?
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Không, tôi không sốc gì cả. Đương nhiên trong lòng cũng có một vài suy nghĩ.
Tôi cũng chỉ nghĩ là ngày Tết đang vui vẻ, gần gũi bạn bè, gia đình, đọc cái blog đó nó như ăn phải hạt sạn. Nhưng tôi sẽ không nhè ra đâu mà sẽ nuốt vào trong bụng đấy.
Mình sống trong môi trường này thì mình cũng phải làm quen dần đi nhưng phải giữ được thái độ của mình trước sau như một.
Tôi là một tiếng nói độc lập, mong rằng có thể tiếp tục đóng góp tốt hơn cho đời sống xã hội và phát triển của đất nước tôi.
- BBC: Tất cả các đại biểu Quốc hội ở Việt Nam đều phải qua bầu cử ạ, tức là phải được cử tri bỏ phiếu bầu. Vậy liệu sự khác biệt giữa các đại biểu, như giữa ông và ông Hoàng Hữu Phước chẳng hạn, có gợi ra băn khoăn gì về quá trình bầu chọn người đại diện cho nhân dân?
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Có lẽ tôi không bình luận, vì cơ chế của quốc gia nó đang như thế. Cần coi đây là hiện thực đang tồn tại, ta chấp nhận nó và ta làm nó thay đổi dần dần thôi.
- BBC: Thưa, trong kỳ họp Quốc hội sắp tới, ông nghĩ mình sẽ phản ứng thế nào khi gặp ông Hoàng Hữu Phước?
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Cũng bình thường như một trong mấy trăm người thôi. Có vấn đề gì anh ấy nêu lên ở Quốc hội mà cần trao đổi, hay là ở các diễn đàn, thì tôi sẵn sàng.
Nói có đầu có đũa, có đi có lại, và để mọi người cùng lắng nghe, cùng chia sẻ.
- BBC: Nếu có lời kêu gọi bãi nhiệm ông Hoàng Hữu Phước vì các phát ngôn của ông ấy thì ông có ủng hộ không ạ?
- Đại biểu Dương Trung Quốc: Tôi xin phép không bình luận. Mọi cái đều có cơ chế của nó, nguyện vọng của người dân cũng cần được tôn trọng.
Cứ để tự nhiên, thì chắc qua cái này mỗi người cũng rút ra được điều gì đó. 

Hoàng Hữu Phước bàn về “tứ đại ngu” của Dương Trung Quốc

hhp2Lịch sử quốc hội, chưa thấy đại biểu nào mạt sát nhau kiểu này, với lối chửi bới như kẻ thần kinh. Bài viết của Hoàng Hữu Phước phê chửi ông Dương Trung Quốc.
Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)
Hoang Huu Phuoc, MIB
Phàm ở đời, cứ luận cổ suy kim thì các nhận định của Thầy Khổng cùng môn đồ ắt không phải không có phần đúng và có thể trên nền đúng cổ đó mà phát triển xum xuê kim thêm rằng (a) người nào khi mẹ cha sinh ra đời đã tự mình biết tất tần tật lẽ phải điều hay ấy là đấng thánh nhân; (b) người nào sinh ra đời biết tự mình tìm đến bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo chí thú học hành tới nơi tới chốn để biết lẽ phải điều hay là đấng đạt nhân; (c) người nào sinh ra đời nhờ mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy mà trở nên biết lẽ phải điều hay là đấng hiền nhân; (d) người nào vừa không được – hoặc không có – mẹ cha biết chọn bậc thầy thiên hạ, vừa bản thân cũng chẳng biết ai là bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo học tập để biết lẽ phải điều hay là người không có phúc phận; (e) người nào đã được mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy nhưng dù cố gắng học hành kết quả học tập cũng không khá hơn được, khiến chẳng thể phân biệt lẽ phải điều hay, là người ngu; (f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu. Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp, Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng.
Giới Thiệu Đôi Nét Về Dương Trung Quốc:
Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng. Tuy nhiên, việc Dương Trung Quốc không chọn danh xưng “Sử Gia” cũng là một điều khá khen là khôn ngoan, vì đã là “sử gia” thì phải là giáo sư tiến sĩ Sử, dù trong tiếng Hán Việt thì “gia” cũng là “nhà”, nhưng “gia” thì … to lắm, thế nên mới có chuyện các nhà tài phiệt chỉ được gọi là “đại gia” chứ đố ai dám vặn vẹo kiểu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà nói đó là…“nhà lớn
Nhất Đại Ngu của Dương Trung Quốc:  Đĩ
Cái đại ngu thứ nhất của Dương Trung Quốc là lập lại lời thiên hạ thế gian này hay nói khi  tuyên bố danh chính ngôn thuận giữa nghị trường quốc hội rằng mại dâm là nghề cổ xưa nhất của nhân loại, rằng các nước luật hóa mại dâm nên Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa đối với nghề mại dâm mà phải công nhận nghề này, và rằng nhất thiết phải đưa mại dâm lên bàn nghị sự của quốc hội. Ba điểm Dương Trung Quốc nêu lên cho thấy những bảy điều xằng bậy như sau:
1) Mại dâm không là nghề cổ xưa nhất của nhân loại mà là nghề…đạo chích, tức trộm cắp. Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có cho biết thủa hồng hoang mới có một nam tên Adam và một nữ tên Eva, tất nhiên chưa thể phát sinh nhu cầu giải quyết sinh lý với người nữ khác nên chưa thể có mại dâm. Song, Eva và Adam đã đồng lõa ăn trộm trái táo xơi để khai sinh ra ngành công nghiệp thời trang cho nhân loại. Việc to mồm nói mại dâm là nghề cổ xưa nhất chỉ có thể là lời khẳng định sự bó tay của nhân loại trước thân phận bọt bèo của nữ giới và tệ nạn của ma cô đàng điếm, của “nô lệ tình dục”, và của “sex trade” chứ sao lại vin vào đó để đòi “công nhận” là một “nghề” chính danh chính thức?
2) Cũng trong chương Sáng Thế Ký Genesis của Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có ghi việc Chúa Trời sai các thiên sứ bay đến hai thành phố Sodom và Gomorrah vung gươm tàn sát giết sạch nam (đàn ông), phụ (phụ nữ), lão (bô lão), ấu (trẻ em, hài nhi) để trị tội dâm ô đồi trụy. Tuy Genesis không có nêu đặc biệt vấn đề đĩ điếm mại dâm nữ, song trong các chương khác của Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo như Châm Ngôn (Proverbs 23:27-28), Lu-ca (Luke 7:36-50), Ma-thi-ơ (Matthew 21:31-32) và II Cô-rinh-tô (II Corinthians 5:17), v.v. đều ghi rõ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus sẵn sàng xóa sạch “tội lỗi” cho đĩ điếm nào tin vào Chúa. Đã là “tội lỗi” ắt đó không bao giờ là “nghề nghiệp” cả.
3) Dương Trung Quốc là đại biểu quốc hội ứng cử tại địa bàn tỉnh Đồng Nai là nơi có rất nhiều giáo xứ. Tôi đã là giáo viên chủ nhiệm một lớp do tỉnh Đồng Nai gởi đến nhờ trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh giúp đào tạo nên một đội ngũ giáo viên tiếng Anh thật giỏi để phục vụ ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Đa số các sinh viên này của tôi đều thuộc gia đình công giáo, và những chuyến đi thăm phụ huynh tại Đồng Nai, dù đó là thành phố Biên Hòa, hay thị trấn Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, v.v., cho tôi cảm nhận được mức độ đạo hạnh cao, mẫu mực gia phong tốt lành nơi các gia đình và nơi bản thân các sinh viên này. Việc Dương Trung Quốc phát biểu linh tinh về mại dâm là việc làm không chút khôn ngoan do động đến vấn đề liên quan đến đạo đức mà Kinh Thánh đã nêu và các cử tri là giáo dân các giáo xứ tỉnh Đồng Nai khó thể chấp nhận được sự xúc phạm, nhất là kiểu ăn nói quàng xiên rằng “không công nhận mại dâm tức là đạo đức giả”.
4) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của cụm từ “đạo đức giả” cũng như các minh họa làm rõ nghĩa cụm từ này trong thực tế đời sống, trong thực tế hùng biện hàn lâm, và trong thực tế tôn giáo, mà tôi sẽ biện luận làm rõ trong một bài viết sau này.
5) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết rằng ngay tại Mỹ chỉ có vài tiểu bang và tại các tiểu bang này chỉ có một hay hai thị trấn đưa mại dâm vào danh sách “nghề” để quản lý. Mà ngay cả khi thế giới đảo điên này có công nhận “nghề” mại dâm, cũng không phải là lý do để đặt đĩ nằm chình ình trên bàn nghị sự của quốc hội Việt Nam!
6) Dương Trung Quốc đã không có tầm nhìn bao quát, sâu rộng, về vấn đề mại dâm. Dương Trung Quốc chỉ nghĩ đến mại dâm như việc đơn giản người phụ nữ có quyền bán thân để kiếm tiền và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ, cao đẳng đĩ, đại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.
7) Dương Trung Quốc đã không thể phân biệt giữa nội dung “nhân quyền” tức “quyền con người” trong việc “tự do bán thân”, với “quyền công dân” mà một đạo luật đĩ  có thể điều chỉnh hành vi.  Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng “quyền con người”. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt. Dương Trung Quốc dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy.
Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng
Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ, với đảng kỳ là cờ vàng sao đỏ, có cùng kích cỡ như cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trước 1975) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ sau 1975 đến nay), và với Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng. Buổi lễ thành lập Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu được tổ chức tại nơi mà nay là Trung Tâm Thể Thao Quận Bình Thạnh, gần Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết mà không bất kỳ một người Mỹ gốc Việt nào biết trước khi đọc thông tin của tôi đăng trên các blog. Ăn nói hồ đồ và xằng bậy về Việt Nam Cộng Hòa là điều đại ngu thứ hai của Dương Trung Quốc.  
Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình
Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự. Vì nổi nóng trước hiện tượng chưa từng có tiền lệ tại quốc hội Việt Nam khi đại biểu Hoàng Hữu Phước được nghị trường vỗ tay đồng tình, Dương Trung Quốc đã có cái đại ngu thứ ba, gồm 5 điều xằng bậy sau:
1) Nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu, chà đạp “tự do ngôn luận”, trong khi nhiều trăm đại biểu khác đang chờ đến lượt họ phát biểu, như vậy đã giành giật thời gian chính đáng chính danh chính thức chính đạo của – và gây thiệt thòi cho – 499 đại biểu quốc hội thuộc các tỉnh khác của Việt Nam.
2) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng “biểu tình” xuất hiện đầu tiên tại Chicago thế kỷ XIX, vì nếu không có kiến thức về ngữ nguyên học, không ai dám tự xưng là “nhà sử học” cả, vì sẽ đến ngày Dương Trung Quốc tuyên bố “biểu tình” đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đời Nhà Trần với cuộc “biểu tình Diên Hồng”.
3) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ cho cá nhân, và như vậy chính Dương Trung Quốc khẳng định Dương Trung Quốc không đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, tức là từ chối đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, càng không đại diện cho bất kỳ người dân Việt nào. Đó là chưa kể Dương Trung Quốc không những xúc phạm 499 đại biểu quốc hội Việt Nam, mà lại còn nhổ toẹt vào các đạo luật về tổ chức quốc hội Việt Nam.
4) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu Hoàng Hữu Phước hãy nghiên cứu trước khi phát biểu, mà không thể hiểu rằng đại biểu thạc sĩ Hoàng Hữu Phước luôn có trách nhiệm trong từng lời phát biểu tại nghị trường và nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và lịch sử các từ ngữ tiếng Anh trong tương quan tiếng Việt.
5) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã tự làm lộ cho toàn quốc biết rằng Dương Trung Quốc không biết ngoại ngữ trong khi bản thân là “nhà sử học”. 
Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức
Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinaline. Đến khi nghe Thủ tướng trả lời hùng biện, chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của 496 đại biểu quốc hội (trừ 1 đại biểu bị miễn nhiệm, 1 đại biểu qua đời khi tại nhiệm, bản thân thủ tướng, và bản thân Dương Trung Quốc), Dương Trung Quốc đã vội vàng nói thêm rằng Dương Trung Quốc sở dĩ đặt câu hỏi là để xem Thủ tướng trả lời thế nào, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là đã “an dân”. Dương Trung Quốc trong cái đại ngu thứ tư này đã phạm 3 điều xằng bậy như sau:
1) Thủ tướng – trên nguyên tắc và lý thuyết tổ chức – đứng đầu tất cả các Bộ. Như vậy, Bộ Quốc Phòng giữ yên bờ cõi, ấy là đại công. Bộ Công An đập nát phản động, tiêu diệt bạo loạn, trừng trị tội phạm, ấy là đại công. Bộ Ngoại Giao đem lá cờ đỏ sao vàng tung bay thắng lợi đối ngoại trên toàn thế giới, ấy là đại công. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Bộ Công Thương lập kỳ tích xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ấy là đại công. Bộ nào cũng lập công, vấn đề là công nhiều hay ít, nhiều hơn hay ít hơn những khó khăn đang tồn tại. Như vậy, cái đạo lý nào cho phép Dương Trung Quốc hỗn xược thách đố Thủ tướng có dám từ chức hay không, khi quản lý yếu kém để Vinashin và Vinaline gây thất thoát tiền của quốc gia? Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan. Dương Trung Quốc loạn ngôn, dám đem việc Vinashin và Vinaline ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác, mà – như đã nói ở trên – đều thuộc dưới quyền Thủ tướng. Thử hỏi, nếu Vinashin không làm thất thoát một xu con nào, nhưng Bộ Quốc Phòng làm mất nhiều tỉnh vào tay quân giặc, Bộ Nông Nghiệp gây ra nạn đói, Bộ Y Tế để dịch bệnh tràn lan, và Bộ Công An bó tay trước bạo loạn đốt phá, v.v., thì đất nước này sẽ ra sao. Dương Trung Quốc đã mị dân khi hùng hổ phát biểu như thể chỉ có Dương Trung Quốc mới “dám” chất vấn như thế. Cái cực đoan, phủ nhận công, phi lý, và bất công là những thứ ngoại lai mà Dương Trung Quốc đã hấp thụ từ bọn giặc nào để tự tung tự tác nơi nghị trường quốc hội Việt Nam như thế? Vinashin là rắn có đầu, và luật pháp nghiêm minh phải xử lý nặng những cái đầu ấy, tức những chức sắc hưởng lương của Vinashin để làm lãnh đạo Vinashin và làm Vinashin phá sản. Đặt vấn đề “văn hóa từ chức” phải chăng hàm ý rằng cứ từ chức là sẽ được “hạ cánh an toàn”, xem như đã giải quyết xong vụ việc?
2)  Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là “văn hóa từ chức” là một ví dụ. Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ “văn hóa từ chức” với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là “văn hóa”. Khi một tai nạn thảm khốc xảy ra tại một nước tư bản, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải nước ấy lập tức từ chức. Đó là quy định bất thành văn để giúp “Đảng” có được 3 điều như (a) thoát được cơn thịnh nộ của người dân, (b) Đảng không bị tổn hại trong kỳ bầu cử tiếp theo, và (c) giữ toàn vẹn danh tiếng và nguồn thu cho các nhà tư bản chủ nhân các công ty chế tạo xe hỏa hoặc tàu bè hoặc máy bay lâm nạn vì các nhà tư bản này cung cấp tài chính cho “Đảng”. “Nhận trách nhiệm quản lý yếu kém” và từ chức, biến tai nạn không phải do lỗi kỹ thuật thiết bị công nghiệp, và người từ chức sẽ được đền ơn bằng cách có một chức vụ cao cấp tại một trong những công ty tư bản ấy. Đây là việc mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng từ các nguồn thông tin mở. Làm gì có cái “văn hóa” và cái “tinh thần trách nhiệm” trong cái gọi là “từ chức” trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích “chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm.
3) Khi nhanh nhảu tự cứu mình trước cảnh thất bại vì không thể làm Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân, Dương Trung Quốc đã cho rằng câu chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để test (thử nghiệm) xem Thủ tướng có tài hùng biện không. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để ban ân cho Thủ tướng có cơ hội trổ tài hùng biện để “an dân” hầu ghi điểm son với toàn dân. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để đánh bóng tên tuổi của Dương Trung Quốc như nhân vật đại diện toàn dân tộc để nói lên tấm lòng của toàn dân tộc rằng toàn dân tộc đã an lòng, yên tâm trước câu trả lời chất vấn hùng biện của Thủ tướng, từ đó toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ Thủ tướng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh tài ba của Thủ tướng. Từ ngữ “an dân” của Dương Trung Quốc mang nội hàm bao gồm tất cả những ý tứ như thế. Và thật khó hiểu, không rõ Dương Trung Quốc đã “lập đại công” với Thủ tướng, hay Dương Trung Quốc đã phạm đại ngu thứ tư này.
 Thay Lời Kết:
Dựa theo lời Thầy Khổng từng phán, cố thể nói rằng ai muốn có điều Nhân mà không muốn học thì bị cái Ngu che mờ, muốn ta đây đầy Trí mà không muốn học đến nơi đến chốn thì bị cái Thấp Kiến  bịt trí, muốn mình có chữ Tín mà không muốn học cho nên người thì bị cái Hại Nghĩa kéo lôi, muốn khoe ta có Trực mà không muốn học cho nên người thì bị cái Ngang Ngạnh làm cho u mê, muốn Dũng mà không muốn học cho thành bậc đạt nhân thì bị cái Loạn làm cho u tối, còn muốn Cương mà không chịu học hành thì bị cái Lồng Lộn làm cho ám áng.
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “biểu tình” là chứng tỏ ta đây có lòng “Nhân” thương dân bị chính phủ làm cho khốn khổ, không ngờ đó lại là “Ngu” vì tự hét lên cho toàn nhân loại biết chính mình không hiểu ý nghĩa tiếng Việt cao siêu và không rành ngoại ngữ khi Đại biểu Hoàng Hữu Phước luận giải về “từ nguyên Anh ngữ” của  cụm từ “protest demonstration”.
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” là chứng tỏ ta đây có trình độ “Trí” muốn nữ công dân – trong đó có các nữ nhân thuộc gia tộc Dương Trung Quốc –  có quyền tự do sử dụng vốn tự có để kinh doanh phát triển ngành công nghiệp bán dâm, không ngờ đó lại là cái “Thấp Kiến” của phường vô hạnh vô đạo đức vô lại vô duyên, dễ đem lại danh xưng “Nhà Đĩ Học” bên cạnh “Nhà Sử Học”.
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có uy “Tín” với dân nên được dân gởi gắm tâm tư nguyện vọng về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”, không ngờ đó lại là điều hỗn với dân và do đó “Hại Nghĩa.”
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có lòng trung “Trực” nói thẳng ra những điều tối thượng mà toàn dân ao ước, cả nước chờ mong, dân tộc đón chào, không ngờ đó lại là do “Ngang Ngạnh” nói càn, luận bừa, sai be sai bét, phản hàn lâm, bất tri, vô trí.
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái  “Dũng” dám kêu Thủ Tướng Dũng đương đầu với câu hỏi “khó”, mà không ngờ đó lại chứng tỏ chính Dương Trung Quốc là “Loạn” vì không phân biệt chính-phụ, không rõ ngay-gian, nên phạm ba “loạn” gồm (a) “loạn ngôn” khi đổi trắng thay đen muốn đem một việc hỏng ra phủ định ngàn việc đạt cứ như đây là thời phong kiến hay tay sai đế quốc-thực dân, (b) “loạn hành” khi cho nghị trường là nơi để Dương Trung Quốc sử dụng “kiểm tra’ tài đối đáp của Thủ tướng, và (c) “loạn trí” khi đối đáp phản pháo trên cơ sở không nghiên cứu, chẳng nền tảng cơ sở dẫn chứng nghiêm túc, và nào có kiến thức ngoại ngữ trong thời buổi hiện đại này.
Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”  là chứng tỏ ta đây có cái  “Cương”, biết khi thời cơ đến thì phải tỏ ra cứng rắn mới chống được cường quyền, mới phục vụ được nhân dân, mà không ngờ đó chỉ là sự “Lồng Lộn” của kẻ thất phu, bất tài, vô hạnh. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “ đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái, dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc.
Thầy Khổng có phán rằng: “Tranh luận nhỏ nhặt thì hại nghĩa, nói nhảm thì phá đạo lý.” Lăng Tần tôi xuất thân nghề giáo, đến nay vẫn được môn sinh gọi là Thầy Phước, nhận thấy cái chuỗi “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chuyện lớn đến độ Dương Trung Quốc đòi để “đĩ” nằm lên bàn nghị sự quốc hội quốc gia, đồng thời với việc Dương Trung Quốc nói nhảm nói nhí, nên trước việc hại nghĩa và phá đạo lý ấy, Thầy Phước tôi không thể không phụ lời giáo huấn của Thầy Khổng, đành chắc lưỡi lập lại nguyên văn lời của Thầy Khổng rằng: “Ôi! Người ta chẳng nói thì thôi, nói ra có đúng lẽ mới nói!” 
Người ta” ắt không phải nói chung bàng dân thiên hạ, mà là “ta đây” vậy.
Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học
Máy nhắn tin: 0988898399
Tham khảo:
- Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình & Luật Lập Hội. 17-11-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19390/phat-bieu-tai-quoc-hoi-ve-luat-tinh-lap
- Ngôn Ngữ Méo Mó – Về Các Phát Biểu Gần Đây Liên Quan Đến Dự Án Luật Biểu Tình. 20-11-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19398/ngon-ngu-meo-mo

Ông Dương Trung Quốc nói về bài viết 'tứ đại ngu' trên báo Tiền Phong

Dư luận hiện đang quan tâm đến bài viết nói về "tứ đại ngu" của nhà sử học, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Dương Trung Quốc. PV đã gặp ông Dương Trung Quốc để tìm hiểu quan điểm của ông về bài viết này.
Bài viết Dương Trung Quốc - Bốn điều sai năm cũ đăng trên blog được cho là của ĐBQH Hoàng Hữu Phước
Bài viết Dương Trung Quốc - Bốn điều sai năm cũ đăng trên blog được cho là của ĐBQH Hoàng Hữu Phước.
Thưa ông, ông đã đọc trọn vẹn bài viết Dương Trung Quốc - Bốn điều sai năm cũ của người ký tên là Hoàng Hữu Phước chưa? Cảm xúc khi đọc bài viết đó của ông như thế nào?
Đây là một bài lấy từ blog cá nhân nên thực lòng tôi cũng không muốn bình luận làm gì. Tuy nhiên giữa ngày tết vui như thế này đọc thấy mất vui đi một tí.
Tinh thần là không có gì đáng để bình luận. Đây là vì Báo chí hỏi nên tôi trả lời thôi.
Trước đây, ông và ĐBQH Hoàng Hữu Phước đã bao giờ trao đổi trực tiếp về những quan điểm khác nhau mà ông Phước nêu trong bài chưa?
Cũng chỉ có một lần trao đổi liên quan đến thảo luận về luật Biểu tình thôi. Còn những việc anh ấy nêu lên, kể ra, đưa ra QH thảo luận thì cũng hay. Nhưng cũng chưa lần nào thấy anh Phước nêu ra cả.
Góc nhìn lịch sử là cách chủ đạo ông dùng để tiếp cận các vấn đề. Từ góc nhìn này, ông đánh giá ra sao về bài viết của ông Hoàng Hữu Phước? Kiến thức lịch sử liệu đã chuẩn xác. Cách đặt vấn đề liệu đã khách quan, khoa học.
Tôi cũng không đánh giá làm gì cả. Tôi thấy không cần thiết phải đánh giá làm gì cả. Vì ngôn ngữ hình như khác nhau nên không thể trao đổi được.
Hồi kỳ họp thứ 2, QH khóa 13, tháng 10-2011, ĐB Hoàng Hữu Phước từng khiến dư luận "nổi sóng" vì quan điểm về luật Biểu tình (không nên bàn luật Biểu tình trong chương trình nghị sự), nay trong bài viết bàn về "tứ đại ngu" của ông, ĐB Phước lại một lần nữa nhắc lại chuyện này. Thực chất việc này là thế nào?
Quy định về biểu tình đã có sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1945 rồi. Nó đã được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên rồi trong khái niệm tự do hội họp. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1959 có hẳn một điều luật về biểu tình rồi. Và như chúng ta đã biết, ngay tại cuối kỳ họp năm 2011 đó thì Thủ tướng cũng tán thành nên có luật Biểu tình. Nên tôi thấy chẳng có gì phải bình luận về cách đặt vấn đề của ĐB Phước.
Ở một diễn đàn bình đẳng như QH thì việc các ĐB có quan điểm, chính kiến khác nhau phải được xem là rất bình thường. Ông nhận xét gì về cách "phản biện" như của ĐB Phước?
Tôi nghĩ đây chẳng thể gọi là phản biện. Đây là cái gì chứ không phải phản biện. Dẫu sao thì anh Phước cũng đang là ĐBQH của TP.HCM, một thành phố có nhiều trí thức lớn. Nên tôi thấy chuyện này để bà con cử tri phát biểu ý kiến bình luận thì hay hơn. Cứ để đồng bào TP.HCM suy nghĩ về người ĐB của mình thôi.
 
Cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhau
Trao đổi với PV chiều 15-2, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết ông chưa có điều kiện tìm hiểu rõ thực hư sự việc ĐBQH Hoàng Hữu Phước viết trên blog cá nhân về ĐB Dương Trung Quốc, song theo quan điểm của ông Lưu, việc ĐBQH trao đổi mà lại có tính chất mạt sát nhau, xúc phạm nhau là hoàn toàn không nên. “Anh có thể phát biểu chính kiến quan điểm của anh với những lập luận, lý lẽ thuyết phục, có văn hóa, xây dựng nhưng không thể thóa mạ, xúc phạm nhau”, Phó chủ tịch QH nói.
Ông đồng thời cho biết, trong các nội quy của kỳ họp của QH, quy chế về hoạt động của ĐBQH cũng đều cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhau, không chỉ trong kỳ họp mà cả hoạt động của ĐB giữa hai kỳ họp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định chế tài xử lý hành vi này.
Lịch sử không chỉ giúp làm nghề sử, mà có thể làm báo, làm chính trị, kể cả làm khoa học. Chính điều này đã giúp “Giáo sư sử học” được làm các chức vụ cao và thậm chí còn làm chính trị. Cũng vì thế mà chính trị đã làm cho Dương Trung Quốc không còn là một “nhà sử học” đơn thuần nữa.
Dương Trung Quốc (sinh năm 1947), quê quán xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, sinh ra và lớn lên tại Hà Nội. Ông Dương Trung Quốc là Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng Biên tập tạp chí Xưa & Nay và Chủ tịch Hiệp hội Câu lạc bộ UNESCO Hà Nội. Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội và đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa XI, XII của tỉnh Đồng Nai. Là một trong số các đại biểu Quốc hội không phải đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Dương Trung Quốc có cha là liệt sĩ Dương Trung Hậu (hy sinh năm 1947), mẹ là người Hà Nội, bà Nguyễn Thị Bảy (sinh năm 1925) ở phố Đào Duy Từ, con chủ hàng rượu Vĩnh Phương, nhà máy rượu Gia Lâm. Ông nội là cụ Dương Trung Giao, quê xã Bình Thắng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre – chủ hãng nước mắm Liên Thành. Vợ của ông, bà Nguyễn Thu Hằng (em gái nhạc sĩ Nguyễn Cường), một phụ nữ Hà Nội.
“Nhà sử học”
Ông Dương Trung Quốc tốt nghiệp đại học môn Sử, danh xưng “Nhà Sử Học” được người ta gắn vào tên của Dương Trung Quốc, thậm chí có một số tờ báo còn gọi là “Giáo sư sử học”. Giáo sư ở Việt nam là học hàm chứ không phải học vị, tức là khi đạt một số tiêu chuẩn thì sẽ có Hội đồng Chức danh giáo sư Nhà nước xét phong tặng, ông Dương Trung Quốc chưa là giáo sư được hội đồng này phong tặng.
Để hiểu về quan điểm của ông Dương Trung Quốc về lịch sử, chúng ta có thể thấy qua câu nói đại ý của “Giáo sư sử học” Dương Trung Quốc: “người ta học sử kém bởi vì học sử không kiếm ra tiền, nếu học sử mà kiếm được 3 nghìn đô la mỗi tháng người ta sẽ đổ xô vào học sử”.
Cảm ơn “giáo sư sử học”, ông nói rất đúng, và còn đúng hơn nữa khi mà “giáo sư” dạy bảo người ta rằng nên học bóng đá, ca hát để kiếm được nhiều tiền hơn.
Lịch sử không chỉ giúp làm nghề sử, mà có thể làm báo, làm chính trị, kể cả làm khoa học. Chính điều này đã giúp “Giáo sư sử học” được làm các chức vụ cao và thậm chí còn làm chính trị (Đại biểu Quốc hội). Cũng vì thế mà Chính trị đã làm cho Dương Trung Quốc không còn là một “nhà sử học” đơn thuần nữa.
Nhà sử học chân chính là phải cống hiến đời mình hoà vào lịch sử Việt Nam tạo nên một kết nối quá khứ – hiện tại – tương lai. Đóng góp vào cho các thế hệ người Việt hiểu rõ lịch sử để giúp chúng ta tiến tới tương lai.
Nhưng vì có nhiều tham vọng và được ca tụng, ông Dương Trung Quốc không chỉ làm nghề sử, mà còn làm nhà báo, làm văn hóa và làm chính trị. Ông đã được đi nhiều nước, có điều kiện để “mở tầm mắt”, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Đáng lẽ ông cần đúc rút kinh nghiệm từ các nước để phát triển ngành lịch sử của Việt Nam đang bị “yếu thế”. Lẽ ra ở cương vị là Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ông cần tự thân hoặc phát động, kêu gọi giới nghiên cứu lịch sử tạo ra các sản phẩm mang tích giáo dục lịch sử cao và thiết thực, thu hút được đông đảo người dân đón nhận như các bộ phim lịch sử Việt Nam (đang bị thiếu vắng trầm trọng), hoặc ít ra là một số video clip lịch sử (Trận chiến Bạch Đằng, Việt Nam, hình hài một chữ S…) mà các bạn sinh viên đã làm ra được cộng đồng mạng đánh giá cao. Ở đây tôi không thấy bóng dáng của Dương Trung Quốc đâu?

Ông Dương Trung Quốc sử dụng tư cách ĐBQH để phục vụ lợi ích của cử tri Đồng Nai hay phục vụ lợi ích cá nhân?
Ông được nhiều tờ báo săn đón, phỏng vấn, được nhiều người tung hô, ca tụng. Có lẽ vì thế mà ông tưởng mình đang ở trên “mây” nên cứ thế “háo thắng” làm tới trên chính trường mà quên đi “nghĩa vụ” của một người được gọi là “Nhà sử học” như một kẻ “cơ hội chính trị”.
Cơ hội chính trị
Những người cơ hội chính trị không có quan điểm chính trị rõ ràng, luôn ngả nghiêng, dao động, không kiên định. Khi thuận lợi thì tỏ ra “cấp tiến”, khi gặp khó khăn thì thoái lui, thoả hiệp. Thường lợi dụng các sự kiện chính trị để đánh bóng tên tuổi, phục vụ mục đích cá nhân. Những người này thường che giấu bộ mặt thật, vừa tỏ ra ủng hộ, vừa với danh nghĩa “đổi mới tư duy”, “yêu nước, thương dân” mà thực chất là chống đối, phá bĩnh.
Họ sẵn sàng làm vừa lòng, hòng tăng phiếu ủng hộ trong các dịp bầu cử. Cơ hội chính trị được gắn rất ranh mãnh và chặt chẽ với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội về đạo đức, lối sống. Cơ hội chính trị gắn liền với động cơ cá nhân, thường là từ những người bất mãn, công thần, kiêu ngạo, coi thường tập thể. Một số được tâng bốc hoặc tài trợ đi đến chống đối.
Một sự kiện mà chúng ta có thể dễ thấy, đó là tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII, Dương Trung Quốc muốn chứng tỏ sự “cấp tiến” của mình đã phát biểu chất vấn tại nghị trường Quốc hội, ngạo mạn đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải đau đầu giải quyết các sai phạm xảy ra tại các tập đoàn kinh tế. Lợi dụng tư cách ĐBQH, ông Dương Trung Quốc muốn làm cho Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân đồng bào, để thỏa mãn, phục vụ lợi ích cá nhân và đánh bóng tên tuổi, được các các thế lực thù địch tung hô.
Biết không đạt được mục đích khi nghe Thủ tướng trả lời một cách chân thiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của đa số đại biểu Quốc hội, thì ông Dương Trung Quốc liền chữa lửa bằng lời thanh minh “chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là an dân”. Điều đó cho thấy ông Dương Trung Quốc rõ ràng là kẻ cơ hội chính trị, luôn ngả nghiêng, dao động. Coi việc chấp vấn là trò chơi chính trị cá nhân chứ không phải là đại diện cho cử tri thảo luận các vấn đề trọng đại của quốc gia. Làm dấy lên làn sóng chỉ trích Thủ tướng rất nhiều…
Trong phiên thảo luận ở Quốc hội, vấn đề mà ông Dương Trung Quốc đưa ra đáng lẽ là các vấn đề phát triển lịch sử của Việt Nam, các vấn đề về cuộc sống dân sinh của nhân dân tỉnh Đồng Nai, nơi ông là đại diện cho các cử tri. Vậy mà chúng ta không thấy những điều đó, mà chỉ thấy ông ta nổi bật với vai trò là một người “chọc ngoáy”, tấn công Thủ tướng để đánh bóng tên tuổi như một kẻ “cơ hội chính trị” kiểu mới.
Nhưng thưa ĐB Dương Trung Quốc, ông thừa biết các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước đều bị chi phối bởi những nguyên lí phải giữ vai trò chủ đạo, là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, trong thời kỳ đất nước đang quá trình đổi mới, nên Thủ tướng dù có mười tai mắt cũng không thể kiểm soát, ngăn chặn triệt để tình hình làm ăn gian dối, nhiều tham nhũng lớn, nhỏ xảy ra ở khu vực này. Vẫn còn các quan chức ở tất cả các quận huyện, tỉnh, thành phố tham nhũng đất đai. Trong lĩnh vực này, Thủ tướng dù có quan tâm, và ra nhiều quyết định cũng chỉ hạn chế phần nào, không thể ngăn chặn triệt để được. Vấn đề là Đảng, Nhà nước và nhân dân đang dần phải tạo ra cơ chế quản trị hiệu quả hơn, chứ không phải tấn công nhau để trục lợi.
Chúng ta có thể cảm thông và chia sẻ quan điểm của Thủ tướng về sự phân công của TW Đảng với ông, và về trách nhiệm chấp hành của Thủ tướng với thái độ cầu thị. Nhưng chúng ta không thể cảm thông những kẻ lợi dụng lúc đất nước khó khăn để trục lợi, cơ hội chính trị, đánh bóng tên tuổi của mình.

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

Bầm dập Sacombank: Hết thâu tóm lại sáp nhập

Sacombank chưa thể được yên, số phận của nó tiếp tục trôi nổi, bầm dập khi vụ thâu tóm chưa kết thúc thì đối mặt với sáp nhập và nguy cơ mất tên vĩnh viễn.

Từ những giao dịch đáng ngờ
Hai cái tên Eximbank, Sacombank, suốt gần hai năm qua đã không ít lần rúng động mà khởi nguồn là cú thâu tóm ngoạn mục có một không hai trên thị trường tài chính Việt Nam.
Từ giữa năm 2011, thị trường bùng phát tin đồn Ngân hàng Sacombank có nguy cơ bị thâu tóm. Câu chuyện trở nên xôn xao và được bàn tán trên khắp các diễn đàn khi Sacombank liên tục mua gom cổ phiếu STB như đang cố thủ.
Sự việc trong những tháng sau đó chìm trong bí ẩn do không hề có một thông tin khẳng định từ các bên liên quan. Sacombank cũng không hé răng bật mí điều gì, trong khi đó một nhân vật đi thâu tóm nào đó không hề lộ diện, các cơ quan chức năng cũng không phát ra một thông tin nào, kể cả những bất thường trong giao dịch cổ phiếu STB.
Tất cả những gì mà ông Đặng Văn Thành - người đã xây dựng và phát triển Sacombank trong 20 trước đó có thể làm được ví như hành động cố thủ cuối cùng, ngọn nến bùng lên trước khi tắt.


Động thái cố thủ đầu tiên mà giới đầu tư có thể nhận ra đó là, trong tháng 11/2011, Sacombank bất ngờ đăng ký mua vào 100 triệu cổ phiếu STB làm cổ phiếu quỹ. Song hành với đó, hàng loạt các công ty thuộc hoặc có quan hệ mật thiết với gia đình “Đặng Thành” là Thành Thành Công, Đặng Huỳnh, Đường Ninh Hòa, Bourbon Tây Ninh đồng dồn dập đăng ký mua vào cổ phiếu STB.
Điều gì đã khiến hàng loạt các công ty do bà Huỳnh Bích Ngọc, vợ ông Đặng Văn Thành làm chủ tịch HĐQT phải đồng loạt tung tiền mua lại cổ phần Sacombank?
Không khó nhận thấy sự bấn loạn, cuống cuồng mua lại cổ phần STB của đại gia đình ông Đặng Văn Thành là do ngân hàng “con đẻ” của họ đang đứng trước một nguy cơ thâu tóm rõ rệt. Hàng loạt các giao dịch quy mô lớn được thực hiện bởi rất nhiều đối tượng với chiến lược mua gom từ năm 2010 khi mà giá cổ phiếu STB chỉ loanh quanh ở mức 11.000-15.000 đồng/cp.
Không chỉ gia đình ông Thành, một vài thành viên hội đồng quản trị của Sacombank cũng tìm cách tăng lượng cổ phần nắm giữ của mình. Một trong số đó là vụ mua vào hơn 30 triệu cổ phiếu STB của ông Chang Hen Jui, chồng bà Huỳnh Quế Hà, Phó Chủ tịch thứ nhất Sacombank.
Cuộc đua nắm giữ cổ phiếu STB đã lan rộng và không ít nhà đầu tư từ lớn tới nhỏ, từ cá nhân tới tổ chức cũng lao vào cuộc và với nhiều mục đích khác nhau.
Tuy nhiên, “cuộc chiến” dường như không cân sức khi mà phía ông Đăng Văn Thành trước đó đã nắm giữ tỷ lệ cổ phần quá thấp, một lượng lớn bị trôi nổi ra thị trường do trước đó nhiều thành viên, phe cánh ông Thành đã bán ra để lấy tiền cho các vụ kinh doanh sinh lợi nhiều hơn khác.
Với thế thấp, lực mỏng, nỗ lực mua gom dường như không mang lại kết quả bởi họ khó bắt kịp lực lượng đối lập, vốn đã kiên trì mua cổ phiếu STB từ suốt một năm trước đó.
Đến thâu tóm “dã man”
Chỉ khoảng một tháng sau quyết định dốc toàn lực giành lại vị thế vốn có của mình và cũng đúng lúc dư luận cho rằng cuộc chiến sẽ còn diễn biến dữ dội khi mà Sacombank đang đồng tâm hiệp lực chống thế lực thâu tóm thì xuất hiện một tín hiệu đầu hàng.
Ngày 19/12/2011, Sacomreal - một doanh nghiệp BĐS do con trai của ông Đặng Văn Thành là Đặng Hồng Anh làm chủ tịch HĐQT đã tuyên bố rút toàn bộ vốn đang nắm giữ tại Sacombank với hơn 22 triệu cổ phiếu. Trước đó, Công ty Chứng khoán SBS cũng đã tuyên bố thoái vốn tại STB.
Câu hỏi được đặt ra lúc bấy giờ là tại sao, Sacomreal - một công ty con của Sacombank, không còn muốn nắm giữ cổ phiếu của công ty mẹ? Trong tình thế lúc đó căng thẳng như vậy, việc bán cổ phiếu STB do mình nắm giữ, khác nào thí quân trong lúc thế cờ mình đang yếu.
Khi đó, không có một bình luận nào được đưa ra từ chủ tịch Sacomreal cũng như từ phía ông Thành. Giới đầu tư chỉ nhận ra một điều rằng, vụ bán ra lần này khác với vụ bà Bích Ngọc vợ ông Thành và con gái diệu Đặng Huỳnh Ức My bán ra cổ phiếu STB trước đó 4-5 tháng. Trước đó, việc người nhà ông Thành bán ra được giải thích là chuyển cổ phiếu STB sang cho Thành Thành Công - công ty đầu tư của gia đình họ Đặng, chuyển từ sở hữu cá nhân sang pháp nhân để quản lý tốt hơn - một động thái được cho là tập hợp lực lượng trước một vụ thâu tóm.
Quyết định thoái vốn của Sacomreal cho thấy một sự thay đổi lớn trong cục diện của một cuộc tranh giành mua-bán một trong những cổ phiếu ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam và giới đầu tư đã hình dung tới một sự thay đổi lớn lao trong ngân hàng này. Đây là khởi đầu cho những cuộc rút lui rầm rộ của gia đình đại gia ngân hàng Đặng Văn Thành khỏi ngân hàng do chính tay mình gầy dựng lên trong nhiều năm trước đó.
Như vậy, vụ mua lại thành công 100 triệu cổ phiếu quỹ của STB (thực hiện từ 16/11/2011 - 3/1/2012) dường như đã không có tác dụng sau khi nhóm cổ đông lớn đã tiếp tục đàm phán và mua thêm được từ nhiều cổ đông lớn của STB.
Từ 6/1-6/3/2012, một cổ đông lớn là REE cũng đã đăng ký bán toàn bộ 42.139.266 cổ phiếu. Trước đó, Ngân hàng ANZ - cổ đông nước ngoài lớn nhất của Sacombank - cũng đã đăng ký bán toàn bộ 103.256.415 cổ phiếu STB, tương ứng 9,61% cổ phần của Sacombank. Người mua số cổ phần STB từ ANZ sau đó được xác nhận là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank).
Với 9,61% nhận từ ANZ, Eximbank nâng tỷ lệ nắm giữ của mình tại Sacombank lên 9,73% và là cổ đông lớn nhất của ngân hàng này. Không những thế, do 100 triệu cổ phiếu quỹ không có quyền biểu quyết nên Eximbank sẽ chiếm tới 10,27% quyền biểu quyết tại Sacombank.
Eximbank cũng chính là ngân hàng hồi cuối tháng 2/2012 tuyên bố đại diện cho một nhóm cổ đông nắm hơn 51% quyền biểu quyết tại Sacombank và đề nghị bầu lại toàn bộ HĐQT, Ban kiểm soát với lý do đã có sự thay đổi cơ bản về cơ cấu cổ đông của Sacombank: như sự thoái vốn của Dragon Capital, Ngân hàng ANZ, REE…, đồng thời có sự tham gia của các cổ đông mới (trong đó có Eximbank).
 

Sáp nhập Eximbank – Sacombank: Chưa biết dùng tên gì

 Theo ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Eximbank, khó khăn trong quá trình sáp nhập là nghiên cứu sử dụng tên nào và tỷ lệ là bao nhiêu.
Hai bên thỏa thuận xem xét trình Đại hội cổ đông và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc hợp nhất và sáp nhập. Thời gian nghiên cứu cần 3-5 năm.

Về lộ trình thực hiện, 2 ngân hàng sẽ đặt ra vấn đề nghiên cứu, thuê công ty nghiên cứu độc lập. Sau đó, trình Hội đồng quản trị thảo luận thống nhất.

Kế tiếp, sẽ làm luận chứng khả thi để thảo luận trình cơ quan chức năng, trình Ngân hàng Nhà nước chấp thuận chủ trương. Khi chủ trương được thông qua, 2 ngân hàng sẽ trình Đại hội cổ đông thông qua.


Ông Lê Hùng Dũng, Chủ tịch Eximbank cho biết, ngân hàng sau sáp nhập sẽ có vốn điều lệ 1,5 tỷ USD (30.000 tỷ đồng), mạng lưới gồm 650 điểm giao dịch.

Eximbank có vốn điều lệ 12.355 tỷ đồng, đến hết quý III/2012 có tổng tài sản hơn 160.000 tỷ đồng, trong khi vốn điều lệ của Sacombank là 10.739 tỷ đồng, tổng tài sản ở cùng thời điểm trên là 147.000 tỷ đồng.

Lãnh đạo 2 ngân hàng cho biết cổ đông hài lòng đối với các khoản đầu tư của Eximbank vào Sacombank. Cổ đông Sacombank cũng ủng hộ việc hợp nhất.

Ông Phạm Hữu Phú, chủ tịch HĐQT của Sacombank cho biết, khi VN chuẩn bị gia nhập WTO, lãnh đạo của của 3 ngân hàng là ACB, Sacombank và Eximbank đã từng bàn nhau về việc hợp nhất 3 ngân hàng. Vì vậy đến hôm nay khi bàn đến việc hợp nhất 2 ngân hàng là nằm trong kịch bản. Còn ông Lê Hùng Dũng thì cho biết, cổ đông của Eximbank rất phấn khởi với các khoản đầu tư vào Sacombank. Về phía Sacombank, ông Phú cho biết nhiều cổ đông đã gửi thư bày tỏ sự ủng hộ đối với sự sáp nhập Eximbank và Sacombank. Vì vậy, việc hợp nhất hay sáp nhập hoàn toàn nằm trong hoạch định.

Ngoài ra, theo nội dung tái cơ cấu đến năm 2012 của NHNN thì phải có những ngân hàng đạt tầm cỡ quốc tế, nên việc hợp nhất hay sáp nhập 2 ngân hàng là hợp lý.

Về khả năng Ngân hàng Phương Nam (SouthernBank) sáp nhập vào Sacombank hay vào Sacombank-Eximbank, ông Phạm Hữu Phú cho biết đến nay vẫn chưa có kế hoạch sáp nhập. 

Trả lời câu hỏi của nhà đầu tư và báo chí về khó khăn của quá trình sáp nhập nếu có, tỷ lệ chuyển đổi là bao nhiêu, cổ đông có đồng ý hay không, liệu việc sáp nhập có là cách thức để hợp thức hóa việc sở hữu chéo hay không?. Ông Lê Hùng Dũng cho biết, quá trình mua lại cổ phần từ ANZ của Eximbank là công khai, minh bạch, được sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đúng quy trình. Vì vậy, việc sở hữu này là đúng theo quy định của pháp luật.

Thứ Bảy, 26 tháng 1, 2013

Biển Đông: Vì sao Việt Nam đấu trí với Trung Quốc bằng đàm phán ?

Khi Trung Quốc gây hấn, cố tình dùng nhiều tiểu xảo hòng chiếm Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam, thì một số người xưng là “yêu nước”, đòi hỏi lãnh đạo Việt Nam dùng vũ lực để đối phó lại. Tuy nhiên, lãnh đạo Việt Nam lại dùng chiến thuật “đàm phán” để đáp trả!

Cảnh sát biển Việt Nam
Bất mãn trước “nước cờ” này, nhiều Blog xuyên tạc, lếu láo bảo rằng “lãnh đạo Việt Nam bán nước cho Tàu nên không dùng vũ lực”. Họ cứ muốn lãnh đạo phải dùng vũ lực nhưng họ không biết rằng, lúc này đàm phán chính là nước cờ thiên biến vạn hóa, là sức mạnh tối cao, hữu hiệu để luật pháp quốc tế về biển Đông hiện diện đúng nghĩa ở đất nước mệnh danh là bậc thầy gây hấn này!
Có thể nói, đàm phán chính là chìa khoá thành công trong vấn đề bảo vệ chủ quyền lãnh thổ! Vì sao lại như vậy, lời nói vì sao có sức mạnh hơn vũ khí? Đơn giản bởi vì: nếu như Việt Nam đàm phán thành công với Trung Quốc, không những Việt Nam sẽ đòi lại những gì thuộc về đất nước hình chữ S mà còn mở ra cơ hội mới giúp Việt Nam xây dựng, duy trì và củng cố những mối quan hệ hợp tác lâu dài với nước này. Nếu như đi nước cờ này, Việt Nam sẽ không phải hy sinh xương máu người dân. Không có chiến tranh thì người dân Việt sẽ sống bình yên và không có cảnh gia đình tan nát. Việt Nam sẽ không mất mát, hư tổn bất cứ điều gì.

Trường Sa
Đó là mặt phải của vấn đề. Còn mặt trái đó là nếu như không cẩn thận, những sai lầm trong cuộc đàm phán có thể khiến Việt Nam chịu thiệt thòi, không lấy lại những gì đã mất mà thậm chí có thể dẫn đến mất luôn quần đảo đang có!
Xưa nay Trung Quốc ngang ngược, rất nhiều lần đi ngược lại cam kết DOC về biển Đông và thường xuyên dở chiêu trò biến thủ phạm thành nạn nhân. Thế nên việc muốn Trung Quốc chịu thực hiện theo luật pháp quốc tế là điều không phải dễ. Đối phó với Trung Quốc phải cần 1 quá trình chuẩn bị và đàm phán lâu dài. Người đàm phán thông minh phải là biết tận dụng tối đa những điều kiện có trong tay để vận dụng một cách linh hoạt trong mọi điều kiện. Phải chuẩn bị tài liệu, chứng cứ và biết nắm bắt cơ hội thì đàm phán mới nắm chắc được thành công.
Rất nhiều người ngờ vực, đặt câu hỏi rằng: nếu như “đàm phán” là phương pháp tối ưu vậy thì vì sao Trung Quốc còn mãi gây hấn, vẫn khăng khăng chiếm đảo của Việt Nam? Dĩ nhiên đàm phán là quá trình có khởi điểm và kết điểm (điểm chết). Trong bất cứ cuộc đàm phán nào, phải gần đến điểm chết mới có được kết quả. Nếu như để cho Trung Quốc biết điểm chết của ta thì ta sẽ không có lợi. Họ sẽ nấn ná, đến gần điểm chết mới tung con ác chủ bài buộc ta nhượng bộ. Vì vậy mà ta phải nhẫn nại, giữ bình tĩnh khi đấu trí với Trung Quốc. Dục tốc bất đạt trong trường hợp này, nghĩa là vậy!
Sở dĩ Trung Quốc không thực hiện đúng cam kết DOC về biển Đông và đi gây hấn, tạo áp lực ngày một nhiều hơn với các nước trong khu vực cốt là để Việt Nam rơi vào thế bị động. Trung Quốc đang chơi chiến lược “mèo vờn chuột”, đùa giỡn để các nước nhỏ hơn nóng giận, thiếu lý trí, dùng vũ lực chống lại. Đợi có thế, vậy là Trung Quốc sẽ nhân danh “đáp trả” lại!
Trung Quốc đang chơi trò chiến thuật kinh điển mà các nhà đàm phán hay áp dụng là kéo dài thời gian, làm cho “chính chủ” rơi vào thế bị động và tự tìm đến điểm kết thúc. Đây là chiêu trò cũ rích mà Trung Quốc thực hiện, thế nhưng nếu như lãnh đạo Việt Nam không sáng suốt sẽ chẳng thể nào nhận ra tiểu xảo này của Trung Quốc!
Đó cũng chính là hàm ý mà lãnh đạo nước ta lại chọn đàm phán để đáp trả Trung Quốc chứ không chọn vũ lực. Nên nhớ rằng, bên cạnh Việt Nam còn có nhiều nước láng giềng, còn rất nhiều đồng minh và bạn bè quốc tế ủng hộ thế nên không dại gì mà ta lại dùng vũ lực với Trung Quốc lúc này!  Đàm phán tuy là con dao hai lưỡi thế nhưng Việt Nam đang nắm đằng cán, đang nắm lý lẽ thì làm sao Trung Quốc có thể đổi trắng thay đen cho được?!
Đi một nước cờ hàm ẩn rất nhiều nước bí. Nhìn lại cả quá trình dân tộc Việt Nam phản đối hành động ngông cuồng của Trung Quốc khi xâm phạm lãnh thổ đất Việt mới thấy rằng lãnh đạo ta rất linh hoạt, phân tích sáng suốt tình hình thời cuộc. Lãnh đạo đã chọn nước tối ưu đó là đoàn kết cùng quốc tế, những nước đồng minh ghì Trung Quốc đến với các cuộc đàm phán để đẩy Trung Quốc đến thế bí. Nếu như đưa Trung Quốc “tâm phục khẩu phục” ngồi vào bàn đàm phán thì chắc chắn ưu thế sẽ thuộc về Việt Nam. Đến lúc đó, Việt Nam sẽ lấy lại tất cả những gì mà Trung Quốc đang chiếm của Việt Nam. Đó là điều tất yếu, bởi Việt Nam có đủ lý lẽ và bằng chứng để chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa, vùng trời – vùng biển đó hoàn toàn là của Việt Nam!
Xem lại lịch sử, 1972 Mỹ dùng sức ép Quân sự trên bàn đàm phám nhưng không thành và Mỹ đã dùng tất cả những gì có thể để đưa Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá, Khi đó ai cũng nghĩ trên bầu trời B52 là bất khả chiến bại nhưng kết quả thì sao. Quân sự và chuyện bí mật quốc gia không phải để ai cũng biết, chúng ta đang sống trên mảnh đất có truyền thống này thì hãy giữ vững niềm tin.
Lúc này nếu đánh liệu có chắc thắng ko? Nhưng về lý chúng ta đúng thì đàm phán là chắc thắng. Vậy nên chọn cái nào : Đàm phán là giải pháp hòa bình tuy nhiên trong lúc chờ ngồi đàm phán với Trung Quốc, Việt Nam cũng phải phản ứng cứng rắn với nước láng giềng không nên để họ cứ làm càn. Tích cực đầu tư cho hải quân không quân. Tập trận trên biển đông cũng nên có chút uy lực. Việt Nam có lực lượng quân đội hùng mạnh anh dũng phải cho họ biết điều đó.
 CẢ NGÀN NĂM NAY CỨ MỖI LẦN TQ XUẤT QUÂN LÀ 1 LẦN THẤT BẠI....
QĐND VIỆT NAM "NỖI KHIẾP SỢ CỦA QUÂN ĐỘI TRUNG QUỐC"

BÀI VIẾT THỂ HIỆN QUAN ĐIỂM CỦA ANH NGỮ THỜI BÁO VÌ VẬY 1 SỐ THÔNG TIN VẪN CHƯA CHUẨN XÁC

Epoch Times (23 Jan 2013)

Chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam đã công bố thực thi Luật biển Việt Nam, trong đó tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền nước CHXHCN Việt Nam. Sự việc này tương tự như động thái của Trung Quốc trong tháng 6 năm 2012 khi công bố thành lập thành phố Tam Sa quản lý các quần đảo ở vùng quần đảo ở biển Đông Việt Nam, chính thức đưa các quần đảo này vào chủ quyền của Trung Quốc…

Ngay bây giờ, Việt Nam và Philippines đã đạt được thỏa thuận về hợp tác hàng hải, mục đích là để cùng nhau đối phó với Trung Quốc, hầu hết các nước ASEAN đều đứng về phía Việt Nam và Philippines. Đồng thời, chính quyền Đảng Cộng sản Việt Nam đã chủ động liên hệ móc nối với các cường quốc thế giới.

Trong những năm gần đây, Việt Nam tăng cường mối quan hệ với các nước đồng minh truyền thống nhất là Nga, và mời Nga quay trở lại Vịnh Cam Ranh, thành lập tại đây trung tâm bảo dưỡng trang thiết bị an ninh kỹ thuật hàng hải chung, Nga cung cấp những khoản tiền lớn để xây dựng một cơ sở tàu ngầm tại Việt Nam; Việt Nam vào 6 tàu ngầm Kilo của Nga, chiếc tàu ngầm đầu tiên được mang tên Hà Nội, đã được hạ thủy cuối năm 2012, không những thế Việt Nam còn tiếp tục mở rộng mua sắm vũ khí của Nga.

Việt Nam cũng đã cải thiện đáng kể mối quan hệ với kẻ thù cũ là Hoa Kỳ. Trong năm 2012, Bộ trưởng Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã đến thăm Việt Nam, họp bàn về khu vực an ninh và hợp tác quốc phòng, và đạt được sự đồng thuận rộng rãi. Việt Nam mời lực lượng Hải quân Mỹ thường xuyên đến Vịnh Cam Ranh và cho phép các tàu hậu cần thường gé Vịnh Cam Ranh, và hứa sẽ cung cấp các dịch vụ bảo trì sửa chữa cho các tàu hậu cần của Mỹ, Việt Nam cũng thường xuyên tổ chức tập trận chung với Hoa Kỳ, hoặc tham gia các cuộc diễn tập đa phương do Mỹ dẫn đầu.

Vịnh Cam Ranh nằm phía Đông Nam của Việt Nam, đây như một “pháo đài chiến lược,” có thể kiểm soát cả tuyến đường đến Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Cảng được bao quanh bởi các dãy núi ở ba mặt, một lối ra biển, lối vào hẹp, địa hình khó khăn, dễ dàng phòng thủ, có thể là nơi neo đậu cho khoảng 40 tàu lớn trọng tải dưới 100,000 tấn. Là một nơi được các cường quốc quân sự chọn làm nơi đồn trú, như Sa hoàng Nga (1905), Pháp (cuối thế kỷ 19, thế kỷ 20), Nhật Bản (1940 và 1945), Hoa Kỳ (1965-1973), Liên Xô và Nga (1979-2002). Ngày nay, Việt Nam đang chào mời cả hải quân Nga và Hải quân Hoa Kỳ quay trở lại và thay phiên nhau đóng quân tại Vịnh Cam Ranh, rõ ràng là để chống lại Trung Quốc.

Việt Nam cũng đã siết chặt quan hệ với Nhật Bản để xây dựng một liên minh chiến lược. Trong tháng 7 năm 2012, Phó Thủ tướng Việt Nam đã thăm Nhật Bản, công khai kêu gọi Nhật Bản và Việt Nam tăng cường hoạt động ở vùng biển Đông Việt Nam để đảm bảo quyền tự do hàng hải ở châu Á. Trong tháng 1 năm 2013, Thủ tướng Nhật Bản đã đến thăm Việt Nam nhằm mục đích để thúc đẩy liên minh Nhật Bản-Việt Nam. Nhật Bản đã trở thành một nước tài trợ và đầu tư lớn nhất cho Việt Nam.

Năm 2012, tàu chiến hải quân Ấn Độ thăm Việt Nam, đã được mời đồn trú tại Nha Trang, Việt Nam, tháng 1 năm 2013, tàu chiến hải quân Ấn Độ thăm lại Việt Nam và gé thăm cảng Đà Nẵng đây cũng là một pháo đài quân sự của Việt Nam. Ấn Độ và Việt Nam tiếp tục gia hạn hợp đồng để tiếp tục thăm dò và khai thác dầu khí ở vùng biển Đông Việt Nam. Hợp tác ba bên Nga - Ấn Độ - Việt Nam là một " tam giác sắt" hợp nhất, Bắc Kinh cần thận trọng.

Việt Nam là nước giỏi nhất hợp nhất được hai thái cực quyền lực nhất thế giới, cùng lúc đó cả bốn cường quốc quyền lực như Hoa Kỳ, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ, đã và đang hỗ trợ đầy đủ cho Việt Nam để làm đối trọng với Trung Quốc. Theo phân tích của truyền thông Nga: Trong các nước Đông Nam Á, Việt Nam là nước duy nhất đối đầu mạnh mẽ nhất với Trung Quốc và sẽ tạo ra một mối đe dọa nghiêm trọng hoặc một cú đánh lớn vào Trung Quốc.

Dân số Việt Nam khoảng hơn 90 triệu người và là một nước lớn ở khu vực Đông Nam Á. Trong lịch sử, người Việt Nam rất dũng cảm và đấu tranh quyết liệt. Mỹ một nước đã từng có nhiều cuộc tham chiến ở nước ngoài cũng phải thừa nhận rằng chỉ họ chỉ thua ở Việt Nam.

Năm 1979 Campuchia đưa quân xâm lược Việt Nam và đã bị quân đội Việt Nam giáng cho những đòn nặng nề và phải vội vã rút quân. Cũng trong năm đó trong một thời gian ngắn hơn hai tuần, Quân đội Trung Quốc đã phải trả giá bằng cái chết của hàng chục nghìn binh lính chết và bị thương, quả là ngoạn mục. Và một cuộc chiến tranh với Việt Nam một lần nữa lại ám ảnh quân đội Trung Quốc vì vẫn không có cơ hội để chiến thắng, thậm chí cả khi quân đội Trung Quốc có thể có ưu thế trên không và trên biển, nhưng cũng không thể tránh để bị quân đội Việt Nam đánh bại. Các chuyên gia quân sự quốc tế bình luận: quân đội Việt Nam có khả năng đánh chìm cả tàu sân bay hoặc các tàu chiến và đánh bại cả lực lượng hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, theo nhận xét của các chuyên gia quân sự thì ngoài sức mạnh chiến đấu cực kỳ lão luyện trên mặt đất, nếu sức mạnh chiến đấu của hải quân và không quân đủ năng lực, quân đội Việt Nam có thể mở những cuộc tấn công trên đất liền vào Quảng Tây, Vân Nam dọc theo biên giới với Trung Quốc, Trung Quốc có cả hai khó khăn để giải quyết.
_______________
BÀI VIẾT THỂ HIỆN QUAN ĐIỂM CỦA ANH NGỮ THỜI BÁO VÌ VẬY 1 SỐ THÔNG TIN VẪN CHƯA CHUẨN XÁC

Dư luận phê phán chính sách biển ngang ngược của Trung Quốc


Chủ trương xây dựng Trung Quốc thành cường quốc biển đang là nguyên nhân gây ra sự căng thẳng, mối quan ngại và thúc đẩy các nước hợp tác chống lại mưu đồ của Trung Quốc.

Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ đại dương. Biển chiếm 71% diện tích bề mặt trái đất, gắn bó khăng khít với sự tồn tại của con người, cũng liên quan chặt chẽ tới sự hưng suy của quốc gia. Nhìn lại lịch sử thế giới, rất nhiều nước trên thế giới đều đã trải qua con đường dựa vào biển để trỗi dậy, nhờ vào biển để cường thịnh. Các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh, Nhật Bản, Mỹ trỗi dậy đều từ biển. Bước vào thế kỷ 21, địa vị của biển trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao quốc tế lại càng rõ rệt hơn. Tình hình đặc trưng là xung đột và đấu tranh giành giật không gian biển và nguồn lợi biển tăng mạnh trong thế kỷ 21.

Bảo vệ chủ quyền Biển Đảo của Tổ quốc Việt Nam
Trung Quốc trong lịch sử từ xa xưa đến tận những năm 1980 là cường quốc lục địa. Bốn hiện đại hóa đã thức tỉnh Trung Quốc trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh biển. Trung Quốc đã không bỏ phí một chút thời gian nào. Sự kiện nổi bật mới đây là Đại hội 18 ĐCS Trung Quốc đã chính thức hóa chiến lược biển, khi tuyên bố: Trung Quốc quyết tâm “nâng cao năng lực khai thác tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển, bảo vệ môi trường sinh thái biển, kiên quyết bảo vệ quyền và lợi ích biển của quốc gia, xây dựng cường quốc biển”. Mục tiêu là mở rộng không gian hoạt động cho lực lượng hải quân Trung Quốc và tận lực khai thác tài nguyên, hải sản biển để nuôi sống 1,3 tỷ dân Trung Quốc.
Trong hành động, vô số thế lực chính trị và kinh tế Trung Quốc đã lợi dụng những căng thẳng về lãnh thổ để phục vụ những lợi ích riêng của họ, điều này đã gây sức ép, buộc các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh lên gân lập trường. Theo báo Le Monde Diplomatique (Pháp), nhiều tác nhân Trung Quốc tham gia các phi vụ làm ăn trên Biển Đông, được gọi là “9 con rồng cướp biển”, dựa theo truyền thuyết. Trên thực tế, con số các tác nhân vượt xa so với số lượng con vật huyền thoại kia. Trong số đó có các chính quyền địa phương, Hải quân, Bộ Nông Nghiệp, các doanh nghiệp Nhà nước, các lực lượng an ninh, thuế quan hay Bộ Ngoại giao.
Chính quyền của các vùng ven biển Hải Nam, Quảng Tây và Quảng Đông lại ra sức tìm đầu ra cho các sản phẩm xí nghiệp của họ vì nếu thành công, chỗ đứng của họ trong bộ máy Nhà nước sẽ được đảm bảo. Chừng nào họ càng bày tỏ cứng rắn, họ còn được giao quyền quản lý công việc địa phương. Những ham muốn càng được kích thích bởi sự kết hợp của một chính sách tăng trưởng với một quyền tự trị lớn hơn của các nhà chức trách địa phương. Đó là lý do tại sao họ khuyến khích các ngư dân của nước họ xâm nhập sâu hơn nữa vào các vùng biển tranh chấp, đặc biệt là bằng cách bắt ép các ngư dân phải hiện đại hóa tàu bè của mình và trang bị các hệ thống dò đường bằng vệ tinh. Việc ưu tiên cấp giấy phép đánh cá cho các tàu đánh cá lưới rê cỡ lớn nhất chính là một sự kêu gọi khác theo hướng này.
Nội hàm “cường quốc biển” của Trung Quốc là gì?
Báo Hải dương Trung Quốc số ra gần đây đăng bài viết của Cục trưởng Cục hải dương quốc gia Trung Quốc về một số vấn đề cần xem xét liên quan đến công tác xây dựng cường quốc biển theo tinh thần mà Đại hội 18. Ngày nay Trung Quốc xác định họ vừa là nước lớn lục địa, cũng vừa là nước lớn về biển.
Nội hàm “cường quốc biển” của Trung Quốc gồm 5 phương diện là nhận thức về biển, sử dụng biển, sinh thái biển, quản lý biển và biển hài hòa.

Trung Quốc vươn tới tận Nam Mỹ trong hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế trên biển của nước khác: Tàu cảnh sát biển Argentina đang áp tải ra khỏi hải phận hai tàu đánh cá Trung Quốc đánh bắt hải sản bất hợp pháp tại vùng biển của nước này hồi cuối năm 2012
Về nâng cao nhận thức về biển, giới lãnh đạo Bắc Kinh chủ trương tăng cường nghiên cứu khoa học biển. Họ chủ trương tăng cường nghiên cứu gien sinh vật dưới biển sâu, nâng cao trình độ nghiên cứu công nghệ thăm dò biển. Trung Quốc chủ trương đào tạo nhân lực mới về công nghệ biển, quản lý ngành biển, nhân tài nghiên cứu cơ sở về biển. Trong đó chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài mũi nhọn theo mô hình sáng tạo, hoàn thiện thể chế, cơ chế về công tác nhân tài biển. Bắc Kinh chủ trương mở rộng công tác văn hóa biển và tuyên truyền về biển, mở rộng diện phổ cập kiến thức về khoa học công nghệ biển, kinh tế biển và pháp luật biển, đào tạo, tích lũy và phát huy tinh thần biển.
Về sử dụng biển, chú trọng phát triển mở mang kinh tế biển, trù tính chung cả đất liền và biển, hoàn thiện hệ thống phân định khu chức năng biển cấp quốc gia và cấp tỉnh, làm tốt quy hoạch phát triển ngành nghề biển, quy hoạch kinh tế biển, quy hoạch bảo vệ biển đồng thời với những quy hoạch khác, liên kết phối hợp giữa các khu quy hoạch. Nhằm nâng cao trình độ khai thác sử dụng biển, xoay quanh một số mặt như: Cải tạo, nâng cấp ngành nghề biển, cải thiện, khắc phục những khó khăn, bế tắc gặp phải trong quá trình đào tạo con người, giúp đỡ ngành nghề biển mới nổi, mở rộng phối hợp giữa sản xuất, học tập, nghiên cứu, thúc đẩy phát triển kinh tế biển vừa tốt vừa nhanh; khai thác nguồn tài nguyên sinh vật biển, tập trung đột phá vào kỹ thuật đánh bắt cá biển, kỹ thuật nuôi trồng trong môi trường nước biển, kỹ thuật chăm sóc cây trồng có khả năng chịu mặn, làm cho tỉ lệ đóng góp của kỹ thuật trong khai thác sử dụng biển tiếp tục được nâng cao.
Cuộc xâm lấn trên giấy tờ – hành động cướp đất mới nhất của Bắc Kinh
Báo Dân tộc của Thái Lan mới đây đăng bài “Cuộc xâm lấn trên giấy tờ của Trung Quốc”, trong đó bình luận rằng một liên minh ứng phó đang hình thành để phản đối hành động cướp đất mới nhất của Bắc Kinh qua việc in bản đồ vào hộ chiếu Trung Quốc. Việt Nam, Philippines, Ấn Độ và Đài Loan đã kịch liệt phản đối hộ chiếu mới của Trung Quốc. Giáo sư nghiên cứu Đông Á Bruce Jacobs của Trường đại học Monash Australia nhận xét: “Bản đồ này khẳng định bản tính ngang ngược ngày càng tăng của Trung Quốc trong việc đưa ra tuyên bố đối với các vùng lãnh hải tranh chấp”. Mỹ cho rằng bản đồ trong hộ chiếu mới là “nguyên nhân gây ra sự căng thẳng và mối lo ngại” trong số các nước tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông. Việt Nam và Philippines đã từ chối đóng dấu thị thực cho các hộ chiếu mới của Trung Quốc và thay bằng việc tạo ra một mẫu thị thực riêng, trong khi Đài Loan thì bác bỏ biên giới biển trong bản đồ nói trên.
Ấn Độ, nổi giận với bản đồ thể hiện 2 bang Arunachal Pradesh và Aksai Chin ở khu vực Himalaya thuộc lãnh thổ Trung Quốc, đang cấp thị thực cho công dân Trung Quốc với dấu nổi in hình bản đồ riêng của New Delhi.
Sau việc đột ngột thúc đẩy hành động của Trung Quốc cướp đất ở Biển Đông, một liên minh an ninh đặc biệt đang nổi lên giữa Nhật Bản và các nước ASEAN tuyên bố chủ quyền, gồm Việt Nam và Philippines, nhằm ngăn chặn hành động xâm lược hung hăng của Trung Quốc thông qua ngoại giao hoặc các biện pháp có khả năng khác. Giám đốc Học viện nghiên cứu Đông Á Yoshide Soeya thuộc Trường đại học Keio Tokyo cho biết: “Chúng tôi muốn xây dựng một liên minh ứng phó của riêng mình tại châu Á nhằm ngăn chặn việc Trung Quốc đang lấn lướt”.

Trung Quốc lo ngại Việt Nam áp dụng Luật Biển

Trong khi ngang nhiên đưa tàu hải giám ra tuần tra vùng tranh chấp đồng thời thực thi một luật bị cộng đồng quốc tế phản đối, Trung Quốc vẫn ngang ngược yêu cầu Việt Nam không được áp dụng Luật Biển mới. 
Sau khi được văn phòng Chủ tịch nước công bố ngày 16/7/2012, hôm 1/1/2013, Luật Biển Việt Nam chính thức có hiệu lực thi hành. Luật này sẽ giúp tăng cường cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam.
Bảo vệ chủ quyền Biển Đảo của Tổ quốc Việt Nam
Bảo vệ chủ quyền Biển Đảo của Tổ quốc Việt Nam
Với 7 Chương và 55 Điều, Luật Biển Việt Nam có đầy đủ các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, các đảo, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và quần đảo khác thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam…
Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một văn bản quy định đầy đủ chế độ pháp lý các vùng biển theo đúng tinh thần UNCLOS – bản “hiến pháp đại dương”, buộc mọi tổ chức, cá nhân phải tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có liên quan khi hoạt động trong vùng chủ quyền của Việt Nam.
Phản ứng trước việc Luật Biển của Việt Nam chính thức có hiệu lực, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hua Chunyang đã ra một tuyên bố bày tỏ sự “quan ngại và kêu gọi Việt Nam kiềm chế không đưa ra bất kỳ hành động nào nhằm làm phức tạp và leo thang căng thẳng giữa hai nước”. Nữ phát ngôn viên Trung Quốc còn trắng trợn tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vốn thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam.
Những phát biểu phi lý và trắng trợn trên được người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc được đưa ra khi mà chính Trung Quốc đang một mình “khuấy đảo” Biển Đông. Đúng ngày Luật Biển của Việt Nam chính thức có hiệu lực, Trung Quốc đã ngang nhiên đưa hai tàu hải giám ra gần vịnh Bắc Bộ ở khu vực tranh chấp trên Biển Đông để tuần tra.
Trắng trợn hơn, Trung Quốc còn bắt đầu thực thi luật mới cho phép cảnh sát nước này chặn và bắt tàu của các nước khác ở vùng biển tranh chấp.
Trung Quốc lo ngại Việt Nam áp dụng Luật Biển (Ảnh minh họa)
Trung Quốc lo ngại Việt Nam áp dụng Luật Biển (Ảnh minh họa)
Điều đáng “kinh ngạc” là Trung Quốc phản đối và bày tỏ lo ngại với Luật Biển của Việt Nam khi mà luật này được xây dựng tương thích cao với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển – UNCLOS 1982. Tính tương thích này thể hiện rõ trong điều 2.2 của Luật Biển: Trường hợp quy định của luật này khác với quy định của điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam là thành viên thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.
Mặt khác, theo luật quốc tế, khi phê chuẩn UNCLOS năm 1994, Việt Nam cũng như các quốc gia thành viên có nghĩa vụ thực hiện đúng các cam kết của mình đối với các quy định của luật Biển. UNCLOS 1982 là công ước khung quan trọng nhất thiết lập một trật tự pháp lý mới công bằng trên biển, bảo đảm tốt nhất quyền lợi biển của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác.
Luật Biển của Việt Nam tôn trọng luật quốc tế và không bị các nước phản đối. Trong khi đó, Trung Quốc lại thực thi một điều luật mới bị một loạt nước phản đối dữ dội. Theo luật này, lực lượng cảnh sát ở tỉnh Hải Nam, phía nam Trung Quốc, được quyền chặn, lên lục soát và chiếm giữ những tàu nước khác mà nước này tuyên bố là “đi vào vùng lãnh hải của Trung Quốc một cách bất hợp pháp”.
Cảnh sát tỉnh Hải Nam cũng được quyền bắt tàu nước khác phải chấm dứt hành trình và đổi hướng khi đi vào vùng tranh chấp mà Trung Quốc tự nhận là thuộc chủ quyền của mình. Trung Quốc đã công bố luật trên từ hồi tháng 11 năm ngoái và nó đã vấp phải sự chỉ trích dữ dội không chỉ từ phía các nước có tranh chấp ở Biển Đông với Trung Quốc mà cả các nước khác trong khu vực và các nước phương Tây.
Trung Quốc đòi chủ quyền đối với hầu hết khu vực Biển Đông, nếu thực thi luật này thì khả năng tàu thuyền các nước đụng độ với hải quân Trung Quốc là điều rất dễ xảy ra.
Philippines cho rằng Trung Quốc “đã đi quá xa” trong khi Singapore, Mỹ và ASEAN bày tỏ sự quan ngại sâu sắc về luật mới của Trung Quốc. Các nhà ngoại giao hàng đầu của ASEAN cảnh báo về khả năng xảy ra đụng độ trên biển. Trong khi đó, Mỹ tuyên bố sẽ yêu cầu Trung Quốc phải giải trình về điều luật trên.
Với những diễn biến ở trên, chắc chắn ai cũng có thể nhận thấy rõ, nước nào mới là nhân tố gây căng thẳng và làm leo thang tình hình ở Biển Đông. Việt Nam luôn thể hiện một lập trường chắc chắn, kiên định trong việc bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông, tuân thủ nghiêm túc UNCLOS 1982 và không gây căng thẳng trong khu vực.

Luật biển Việt Nam: Tuyên ngôn về chủ quyền biển đảo


Bắt đầu từ ngày 01/01/2013, Luật biển Việt Nam có hiệu lực thi hành. Việc Luật biển Việt Nam được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua trước đó đã thỏa lòng mong mỏi, đợi chờ của bao thế hệ người Việt Nam. Không những dân tộc Việt Nam, kiều bào ở nước ngoài mà dư luận quốc tế cũng đều ủng hộ mạnh mẽ.
Nếu như “bài thơ thần” của Lý Thường Kiệt, Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh là tuyên ngôn về chủ quyền, độc lập của quốc gia thì Luật biển Việt Nam cũng là tuyên ngôn về chủ quyền biển đảo của dân tộc Việt Nam thời hiện đại. Để Luật biển Việt Nam có sức mạnh thực sự thì điểm quyết định nhất là phải chuẩn bị như thế nào để có đủ khả năng thực thi Luật biển Việt Nam một cách nghiêm túc.
Máy bay CaSa 212 được trang bị hệ thống tuần thám MS 6000 của CSB VN
Máy bay CaSa 212 được trang bị hệ thống tuần thám MS 6000 của CSB VN
Ngày nay, thế của ta đã khác, lực của ta đã đổi. Việt Nam ta hơn lúc nào hết sẵn sàng đem hết tinh thần, nghị lực, tính mạng, tài sản, để bảo vệ chủ quyền biển đảo, chúng ta có đủ khả năng đương đầu với mọi thách thức trên biển. Đó là cơ sở, nguyên nhân, động lực cho Luật biển Việt Nam ra đời và có hiệu lực từ ngày 01/01/2013.
Để Luật biển Việt Nam có tính thực thi là cả một sự chuẩn bị thế và lực cho đất nước, trong đó nổi bật nhất là Cảnh sát biển Việt Nam – lực lượng nòng cốt thực thi Luật biển Việt Nam.
Sự hình thành phát triển của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đến ngày nay như chúng ta đã cảm nhận, vui mừng và tự hào về sự lớn mạnh của nó…có một điều khiến ta tâm đắc, đó chính là nhãn quan chiến lược của Đảng đối với lực lượng này.
Năm 1998, Cục Cảnh sát biển Việt Nam ra đời. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà CHXHCNVN là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa của nước CHXHCNVN.
Lúc đó Cục CSB chỉ là một Cục trực thuộc Bộ TL Hải quân về mọi mặt. Theo đó, ứng với mỗi vùng Hải quân là mỗi vùng CSB mà nó trực thuộc với một hải đội để “thực thi pháp luật Việt Nam trên biển”. Về trang bị chỉ mấy con tàu cũ của hải quân. Về người thì cũng từ Hải quân…quân số quá nhỏ nhoi so với Hải quân.
Lực lượng trẻ, khỏe, có kiến thức của CSB Việt Nam
Lực lượng trẻ, khỏe, có kiến thức của CSB Việt Nam
Rất ít người biết rằng, tuy tổ chức còn nhỏ, sơ khai nhưng tầm vóc nó sẽ rất lớn, sứ mạng nó sẽ rất nặng nề…Nhưng rất lớn thì lớn ra sao, sứ mạng rất nặng nề là như thế nào, lúc đó, ngay cả người trong cuộc, không phải ai cũng nhận thức được.
Sự “lớn lên” của Cảnh sát biển Việt Nam được ghi nhận bởi 2 điểm mốc quan trọng. Bắt đầu là các vùng CSB tách ra khỏi các vùng Hải quân năm 2000, tiếp theo năm 2008 toàn bộ Cục CSB tách ra khỏi quân chủng Hải quân để trực thuộc Bộ quốc phòng.
Có thể nói, Cảnh sát biển Việt Nam là từ Hải quân sinh ra và nuôi dưỡng. Mỗi lần “tách” khỏi Hải quân là mỗi lần chứng kiến lực lượng CSB “đủ lông đủ cánh” có khả năng để hoàn thành nhiệm vụ có tính chất khác biệt với Hải quân. Đến hôm nay có thể nói, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã phát triển vượt bậc, hiện đại hóa nhanh chóng phương tiện trang bị, cơ cấu tổ chức và con người.
Mới 15 năm, nhưng những người lính Hải quân từ những ngày đầu tiên cởi bỏ bộ quân phục Hải quân khoác lên mình quân phục Cảnh sát biển cũng cảm thấy ngỡ ngàng bởi sự lớn mạnh của nó. Giờ đây, CSB Việt Nam đã trở nên cứng cáp, bản lĩnh, tự tin sẵn sàng nhận và hoàn thành một nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho, đó là thực thi pháp luật Việt Nam trên biển.
Có lẽ bây giờ chúng ta đã hiểu tầm nhìn xa của Đảng trong công cuộc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Đó là công tác tổ chức xây dựng và phát triển lực lượng, tạo thế và lực cho đất nước đủ sức đương đầu với các tình huống.
Cảnh sát biển Việt Nam, được sinh ra, đầu tư, chăm lo phát triển như thế nào để bây giờ lực lượng này đảm nhận được trọng trách giao phó khi Luật biển Việt Nam ra đời trong bối cảnh khu vực đầy biến động…là một chứng minh hùng hồn cho sự sáng suốt nhìn xa, trong rộng của Đảng.
Để thực thi Luật biển Việt Nam có hiệu quả, từ những ngư dân can trường ngày đêm bám biển khẳng định chủ quyền, đến lực lượng bộ đội biên phòng, lực lượng Kiểm ngư (mới thành lập) và Cảnh sát biển Việt Nam là nòng cốt, trong tình hình khu vực biển Đông có sự tranh chấp diễn ra rất gay gắt thì không phải là dễ dàng.
Tàu CSB Việt Nam ngày càng được trang bị tối tân hiện đại tầm cỡ quốc tế.
Tàu CSB Việt Nam ngày càng được trang bị tối tân hiện đại tầm cỡ quốc tế.
Nhưng chúng ta có chính nghĩa, bởi Luật biển Việt Nam hoàn toàn phù hợp với “Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982” mà hầu hết các nước trong khu vực là thành viên. Do đó chúng ta thực thi Luật biển Việt Nam là hành động chính đáng, chính nghĩa.
Với một đất nước hơn 3 ngàn km bờ biển, cùng với hiện đại hóa lực lượng Hải Quân để bảo vệ biển đảo thân yêu của Tổ quốc, chúng ta cần phải tăng cường sức mạnh cho lực lượng Cảnh sát biển làm nòng cốt cho lực lượng thực thi pháp luật Việt Nam trên biển.
Hơn lúc nào hết, sự ra đời của Luật biển Việt Nam đã làm cho sứ mạng của Cảnh sát biển Việt Nam nói riêng và các lực lượng khác sẽ nặng nề nhưng cũng rất đỗi vinh quang. Sự yên bình của ngư dân, luật pháp Việt Nam trên biển được thực thi nghiêm túc hay không, có một phần không nhỏ của sự hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII tại phiên họp cuối ngày 21-6-2012 của kỳ họp thứ ba đã bỏ phiếu thông qua Luật Biển với số phiếu tán thành là 495/496.
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Luật Biển Việt Nam có bảy chương, 55 điều với việc xác định chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa…được ghi ngay trong điều 1. Luật Biển bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-1-2013.
Đây là một sự kiện lớn, một tin vui lớn, đáp ứng những đòi hỏi của tình hình phát triển đất nước hiện nay, thỏa mãn tinh thần yêu nước của nhân dân ta. Luật Biển là một văn kiện pháp lý vô cùng quan trọng và cần thiết của đất nước ta để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với vùng biển quốc gia, tạo cơ sở và hành lang pháp lý cao nhất cho mọi công việc sử dụng, khai thác và bảo vệ vùng biển nước nhà.
Những nội dung chính của Luật Biển Việt Nam
Luật Biển Việt Nam gồm có bảy chương, 55 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2013.
Chương 1 gồm các quy định chung về phạm vi điều chỉnh, định nghĩa.
Chương 2 quy định về vùng biển Việt Nam với các quy định về đường cơ sở, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đảo, quần đảo…
Chương 3 quy định về hoạt động trong vùng biển Việt Nam, trong đó có các quy định: đi qua không gây hại trong lãnh hải, tuyến hàng hải và phân luồng giao thông trong lãnh hải phục vụ cho việc đi qua không gây hại, vùng cấm và khu vực hạn chế hoạt động trong lãnh hải, tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài đến Việt Nam, trách nhiệm của tàu quân sự và tàu thuyền công vụ của nước ngoài trong vùng biển Việt Nam, hoạt động của tàu ngầm và các phương tiện đi ngầm khác của nước ngoài trong nội thủy, lãnh hải Việt Nam, quyền tài phán hình sự và dân sự đối với tàu thuyền nước ngoài, quyền truy đuổi tàu thuyền nước ngoài…
Chương 4 của Luật Biển Việt Nam dành cho phát triển kinh tế biển, với các điều khoản về nguyên tắc phát triển kinh tế biển, các ngành kinh tế biển, quy hoạch phát triển kinh tế biển, xây dựng và phát triển kinh tế biển, khuyến khích, ưu đãi đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo và hoạt động trên biển.
Chương 5 của Luật quy định về tuần tra, kiểm soát trên biển với các điều khoản về lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển, nhiệm vụ và phạm vi trách nhiệm tuần tra, kiểm soát trên biển, cờ, sắc phục và phù hiệu.
Chương 6 quy định về xử lý vi phạm. Chương này bao gồm các điều khoản về dẫn giải và địa điểm xử lý vi phạm, biện pháp ngăn chặn, thông báo cho Bộ Ngoại giao và xử lý vi phạm.
Chương 7 quy định về điều khoản thi hành.
 Xem chi tiết: Toan-van-luat-bien-viet-nam-2012