Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2011

PN&HĐ: Kế ly gián của Tào A Man và cuộc tranh cãi vô bổ

Chiêu cắt xén, xuyên tạc...gây nghi ngờ, chia rẽ của một số báo chí Trung Quốc; chuyện thương lái Trung Quốc ồ ạt gom hàng nông sản Việt Nam và vụ tranh cãi kịch liệt giữa phe đạo diễn và phe biên kịch quanh một giải thưởng nhà nước là những lát cát của Phát ngôn - Hành động tuần này.
Kế ly gián của hậu duệ Tào A Man
Phát ngôn & Hành động tuần này xin được bắt đầu bằng việc nhắc lại bài phỏng vấn của ông Nguyễn Thế Sự đăng trên báo Hoàn Cầu của Trung Quốc, mà đồng nghiệp Kỳ Duyên đã đề cập từ tuần trước. Mọi chỉ trích và ngợi khen ông Sự mọi người đã nói rồi, người viết không cần phải nhắc lại.
Trong bài này, người viết muốn lưu ý tới ngón nghề "bổn cũ soạn lại" mà các hậu duệ của Tào A Man đã sử dụng để ly gián đối thủ của mình. Chỉ trong vòng một năm trở lại đây thôi cũng khối ví dụ khiến người ta giật mình.
Còn nhớ cách đây gần một năm, nguyên trưởng phân xã của Tân Hoa Xã tại Việt Nam Lăng Đức Quyền cũng đã có một bài viết nhằm chia rẽ không chỉ quá trình bình thường hoá quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, mà còn chia rẽ cả cộng đồng người Việt ở trong nước Việt Nam với cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Tuy nhiên, quan điểm tuy thiển cận và "võ đoán" của người phóng viên có mặt ở Việt Nam từ trước ngày 30.4.1975, chỉ làm hại đến thanh danh của riêng ông ta, trong con mắt của những người bạn, đồng nghiệp Việt Nam, quen biết ông ta suốt gần 40 năm qua.
Nhưng với những kẻ như tác giả của bài phỏng vấn ông Nguyễn Thế Sự trên báo Hoàn Cầu là một sự xuyên tạc trắng trợn, kiểu "ngậm máu phun người", mà ngay cả cơ quan chức năng Việt Nam cũng nên cạch mặt. Họ coi thường quá đáng lòng yêu nước đã giúp cho dân tộc này thoát khỏi một ngàn năm Bắc thuộc, và một ngàn năm tiếp theo cố gắng giữ vững nền độc lập mà vừa năm ngoái thôi dân tộc này vừa mới kỷ niệm.
Ông Nguyễn Thế Sự và phóng viên Tề Lỗ văn báo
Và những kiểu cắt xén, thêm bớt như vậy trên truyền thông Trung Quốc đếm không xuể, chỉ ở mức độ tinh vi hơn thôi. Người viết chỉ điểm ra đây những ví dụ mà không phải chỉ những người Việt Nam tinh tường mới nhận ra, mà cả ông giáo Thayer từ Úc Châu cũng dễ dàng nhìn thấy.
Giáo sư Thayer đã từng nhận xét trên Tuần Việt Nam: "Việt Nam có tổ chức những cuộc họp nội bộ về Biển Đông, nhưng rất ít thông tin được công bố cho đông đảo người dân được biết.  Đây là những vấn đề rất phức tạp, và nếu chính phủ không giải thích rõ những chính sách của mình cho công chúng, có nguy cơ các loại tin đồn, hay thông tin thất thiệt, sẽ tràn vào Việt Nam. "
Chẳng hạn, tờ China Daily vào ngày 4.6.12011 vừa rồi về cuộc gặp giữa bộ trưởng quốc phòng hai nước Trung Quốc và Việt Nam bên lề Đối thoại Sangri-La 2011 Tờ này viết: "Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh nói hôm Thứ Sáu rằng tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) cần phải được giải quyết mà không có sự tham gia của một bên thứ ba nào".
Tờ báo này cũng đã từng đưa tin rằng nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đồng ý với cách tiếp cận song phương của Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, khi tường thuật cuộc gặp song phương giữa ông và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo bên lề Cấp cao ASEAN 17.
Hay Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng đã từng phải giải thích trên báo Quân Đội Nhân Dân rằng quan điểm của ông cũng bị hiểu lầm khi báo chí Trung Quốc đưa tin rằng ông vui mừng trước việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh quân sự, trong khi thuật ngữ ông dùng là "khả năng quốc phòng".
Riêng về câu chuyện Shangri-La, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Nguyễn Phương Nga có nêu lại quan điểm của phía Chính phủ Việt Nam về các phương thức giải quyết tranh chấp cho từng trường hợp, trong cuộc họp báo thường kỳ diễn ra một tuần sau đó. Đối với những vấn đề chỉ liên quan đến hai nước thì giải quyết song phương giữa các nước liên quan trực tiếp: Bắc Bộ, vấn đề quần đảo Hoàng Sa). Đối với những vấn đề liên quan đến các nước và các bên khác, như vấn đề quần đảo Trường Sa, thì giải quyết giữa các bên liên quan đó. Đối với những vấn đề không chỉ liên quan đến các nước ven biển Đông, mà còn liên quan đến các nước ngoài khu vực, như vấn đề an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông v.v... thì phải được giải quyết với sự tham gia của các bên liên quan.
Tuy nhiên, về phương diện truyền thông chính thống, phía Việt Nam đã để phía Trung Quốc "cướp loa" suốt một tuần lễ.
Hay mới đây nhất là sự "úp úp, mở mở", "đánh lận con đen" về quan điểm của đặc phái viên của lãnh đạo Việt Nam, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, liên quan đến bức công hàm năm 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Tất cả đều nhằm một mục đích chia rẽ Việt Nam với cộng đồng ASEAN, chia rẽ giới lãnh đạo với người dân Việt Nam, và chia rẽ người Việt Nam trong nước bất kể địa vị xã hội với người Việt ở nước ngoài.
Cần phải lưu ý rằng những kẻ hiếu chiến và tham lam trong giới lãnh đạo Trung Quốc vốn có rất nhiều kinh nghiệm trong việc gây chia rẽ, kể cả trong nội bộ. Người dân Trung Quốc đã chẳng phải trả giá lớn trong cuộc Đại Cách mạng Văn hoá, hay trong sự kiện Thiên An Môn rồi đó sao.
Chắc không chỉ những người như ông Nguyễn Thế Sự, hay trước đó là ông Nguyễn Huy Quý, mới cảm thấy cần cảnh giác. (Cũng cần có một lời khen xứng đáng cho sự bài bản của TS Vũ Cao Phan, người chắc chắn sẽ tiếp nối nhà ngoại giao Dương Danh Dy xuất hiện dài dài trên truyền thông Việt Nam trong những vụ việc có liên quan tới Trung Quốc.)
Điều người viết cảm thấy hơi lạ là tại sao Việt Nam có những "vũ khí" rất sắc bén trong việc đấu tranh chống các "thế lực thù địch" mà vẫn giấu kỹ thế trong trận chiến này? Trong khi những những thứ vũ khí thực sự cần giấu thì lại thấy "show" như người đẹp "show hàng" trên báo.
Cần nhớ rằng trong cuộc tranh chấp này, cuộc chiến quyền lực mềm mới là ưu tiên hàng đầu, để người Việt Nam và thế giới, kể cả dư luận Trung Quốc và ASEAN, hiểu người Việt Nam hơn. Chứ còn đua tranh quyền lực cứng chỉ là hạ sách, khi một dân tộc đã trải qua nhiều mất mát vì chiến tranh như dân tộc Việt Nam không còn đủ kiên nhẫn để nhân nhượng nữa.
Những cây bút sắc sảo này đi đâu rồi nhỉ? Trong khi những "thế lực thù địch" thật sự vẫn đang khua môi múa bút trong việc ly gián nội bộ chúng ta, hòng đục nước béo cò. Độc giả, trong đó có người viết thấy nhớ họ quá.
Khi nông dân có quyền... nhờ Trung Quốc
Một sự kiện đáng chú ý trong tuần qua là việc giới truyền thông và giới chuyên gia đồng loạt lên tiếng về xu hướng thu mua hàng nông sản ngày một nhiều của thương lại Trung Quốc.
Nông dân ồ ạt thu gom nông sản bán sang Trung Quốc
Ngay cả giá một số thực phẩm như thịt gia súc, gia cầm, trứng... tăng cao đột biến, cũng được không ít ý kiến cho rằng có nguyên nhân do thương nhân Trung Quốc sang Việt Nam thu mua với số lượng lớn.
TS Trần Minh Quân trong bài viết mới đây trên Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, sau khi nói rằng, trong khi các loại hàng hóa khác đang được điều chỉnh lên xuống theo giá thị trường, thì giá các loại nông sản như rau, củ, quả, lúa, gạo, ... thường do thương lái và các nhà phân phối định giá, đã chua chát nhận xét: "Trong thời gian qua, với sự xuất hiện ồ ạt của thương nhân Trung Quốc trên đất nước Việt Nam, người nông dân lần đầu tiên mới có cơ hội được "làm giá" các sản phẩm do mình làm ra mà ít chịu sự o ép về chất lượng như trước đây khi bán cho các thương lái Việt Nam."
Giải thích nguyên nhân của xu hướng thương lái Trung Quốc tập trung thu gom hàng nông sản Việt Nam một cách bất thường, Thứ trưởng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Diệp Kỉnh Tần nói: "Một là có thể đang vào thời điểm phía Trung Quốc khó khăn về nguồn cung sản phẩm, bởi hiện họ thiếu rất nhiều thứ, kể cả gạo, thịt và nhiều sản phẩm khác. Mỗi khi thiếu như vậy sẽ có tác động rất lớn vì thị trường của họ tới hơn 1,3 tỷ dân, nên cần khối lượng lớn."
Theo Cục Số liệu Quốc gia Trung Quốc, trong tháng 5.2011, giá tiêu dùng đã tăng 5,5%, cao nhất trong vòng 34 tháng qua. Trong đó, giá lương thực tăng 11,7%.
"Các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nhất là lịch sử kinh tế nông nghiệp trên thế giới thường nói rằng "hạt gạo không phải hạt làm giàu, nhưng là hạt chống chiến tranh, chống bạo loạn".
Củng cố cho nhận định nói trên là một phát hiện đáng chú ý của giới chuyên gia nước ngoài, khi họ chỉ ra rằng sự kiện Thiên An Môn cách đây 22 năm đã diễn ra trong bối cảnh lạm phát ở Trung Quốc lên tới mức 5,5% sau nhiều năm.
Ông Tần còn đi xa hơn nữa, khi lưu ý tới một khả năng khác, mà Việt Nam cần phải nghiên cứu kỹ. "Đó là nếu Trung Quốc cố tình làm như thế, họ sẽ gây khó khăn lớn đối với nỗ lực của Việt Nam trong việc đảm bảo các sản phẩm thực phẩm sạch cung cấp cho người dân trong nước và cả xuất khẩu", ông nhắc nhở.
Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, áp lực nói trên đều tác động lên lạm phát của Việt Nam vô cùng lớn. Bởi nó được "điều phối" vào các thời điểm rất nhạy cảm của nền kinh tế Việt Nam.
Thử hình dung khi người Việt Nam bắt đầu có chút hân hoan, dù hơi sớm, về việc tốc độ tăng lạm phát tháng giảm bớt trong tháng 6, thì tín hiệu của nửa đầu tháng 7 vừa qua là gì? Và ai dám chắc nó sẽ không tiếp tục trong các tháng sắp tới, bất chấp nỗ lực kìm hãm lạm phát của Chính phủ ở mức 17% trong quý 3, và quý 4.
Đó là chưa nói nó sẽ vô hiệu hoá ngay quyết định nâng lương tối thiểu cho người lao động trong khu vực hành chính và doanh nghiệp, ngay khi nó chưa kịp có hiệu lực.
Chưa nói tới khuyến cáo của các chuyên gia về "bài học Trung Quốc", khi nông sản, hay nguyên liệu của Việt Nam đã phụ thuộc vào duy nhất một thị trường của họ, thì họ trở mặt, gây khó dễ để ép giá, ngay việc họ chơi đàng hoàng cũng gây bao khốn đốn cho Việt Nam vào thời điểm này. Từ việc phá vỡ cơ cấu vùng sản xuất, nguồn cung nguyên liệu, đến tình trạng "đói dài" của các cơ sở chế biến của Việt Nam, dẫn đến thất nghiệp hàng loạt.
Nguy hiểm hơn nữa, thặng dư thương mại của Trung Quốc với Việt Nam không nhất thiết bằng đồng tiền quốc tế, như USD, mà có thể bằng chính tiền VND. Không ai có thể loại bỏ thực tế là các thương nhân Trung Quốc vùng biên mậu giáp Việt Nam có thể tích trữ một lượng lớn dự trữ tiền VND, có được từ thặng dư thương mại phi chính thức.
Theo một nguồn tin từ tháng 3.2011, số lượng tiền đồng đó có thể là 200 ngàn tỷ VND, tương đương với 10 tỷ USD. Và thương nhân Trung Quốc hoàn toàn có thể sẵn sàng sử dụng số tiền đó, nếu quả thực là nó đang nằm trong dự trữ cho thương mại để trả lại vào nền kinh tế Việt Nam. Nếu đúng vậy, đây là một cú sốc tăng cung tiền lớn.
Với các giải pháp tình thế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cách đây hai hôm đã phải có cuộc họp khẩn cấp nhằm đánh giá tình hình. Chính phủ và Quốc hội sắp tới cũng khó có thể không bàn tới nguy cơ cấp bách này. Các chuyên gia cũng sẽ còn phân tích dài dài. Trước mắt, khó có thể nói về một nhóm giải pháp khả thi nào đó.
Nhưng về lâu dài, đó là một câu chuyện rất đáng quan tâm, nếu không nói là thuộc nhóm ưu tiên hàng đầu. Và trước hết phải đánh giá lại vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế nói chung.
Một phần tư thế kỷ qua, có lẽ ngoài chuyện người nông dân được cởi trói, nông nghiệp chưa hề nhận được sự đầu tư đáng kể nào. Đó là chưa nói tới việc bị chèn ép, tước đoạt nguồn lực bởi các khu vực kinh tế khác như công nghiệp, dịch vụ, hay bất động sản. Mặc dù, hơn 20 năm qua nó đóng một vai trò rất lớn trong nền kinh tế.
Ngoài việc đảm bảo an ninh lương thực, và đóng góp cho xuất khẩu, nền nông nghiệp giá rẻ đã giúp duy trì lợi thế cạnh tranh hàng đầu về nhân công giá rẻ của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài.
Nói như Giáo sư Peter Timmer, chuyên gia hàng đầu về lịch sử nông nghiệp: "Thật vô lý khi một đất nước có truyền thống và lợi thế về nông nghiệp lại cứ mải chạy theo xu hướng công nghiệp ở trình độ thấp, và nông dân ở một nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới lại đa phần sống ở mức nghèo khổ."
Và điều quan trọng hơn là phải cấu trúc lại mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc, khi thặng dư nông sản giá trị thấp với anh bạn láng giềng này, trong khi đó lại thâm hụt hàng công nghiệp tiêu dùng, và tiến tới cả hàng hóa tư bản, ở mức độ ngày càng lớn - điều mà giờ đây Việt Nam đang phải chịu đựng.
Có một điều trớ trêu là với giá mà thương lái Việt Nam trả trước đây, người nông dân Việt Nam chắc chỉ dám xài hàng Tàu chất lượng thấp, nhưng giá bèo. Chắc chỉ với cách bán nông sản cho đám thương lái Trung Quốc như bây giờ, những người nông dân Việt Nam mới có đủ tiền để hưởng ứng lời kêu gọi "dùng hàng Việt Nam là yêu nước".
Một cái kết thúc gợi nhớ lại truyện ngắn nổi tiếng "Món quà của các nhà hiền triết". Chỉ có khác là "tự nhiên muốn ... ứa nước mắt".
Tranh cãi cá nhân trong vụ giải thưởng nhà nước
Chiều 6/7, nhà biên kịch Phan Thanh Tú đã gửi kiến nghị lên Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch về kết quả xét tặng Giải thưởng Nhà nước đối với cụm công trình của đạo diễn Nguyễn Thước gồm Sự nhọc nhằn của cát, Những công dân @, Chất xám, với sự đồng thuận của đồng nghiệp Phan Huyền Thư.
Nếu hai nhà biên kịch này chỉ phê phán là đạo diễn Nguyễn Thước chưa xứng đáng đưa 3 tác phẩm này để được xét phong tặng Giải thưởng Nhà nước, như lời nhận xét với báo chí sau đó, có lẽ câu chuyện không ồn ào vào đi xa như vậy. Bởi, xét cho cùng, tuy có một bộ phim là phim Sự nhọc nhằn của cát đoạt giải Bông sen Bạc, nhưng bản thân nhà đạo diễn lại chưa giành được giải cá nhân nào.
Thế nhưng, hai nữ biên kịch đã khẳng định, Nguyễn Thước xin xét phong tặng Giải thưởng Nhà nước cho các bộ phim trên với tư cách tác giả là không đúng, vì tác giả kịch bản và lời bình mới thật sự là tác giả sáng tác của lĩnh vực văn học nghệ thuật. Và họ mới là người đoạt giải cá nhân, Phan Thanh Tú đoạt giải Bông Sen Vàng cho Biên kịch xuất sắc với phim  Sự nhọc nhằn của cát, còn Phan Huyền Thư đã nhận giải Bông Sen Vàng cho Biên kịch xuất sắc với phim Chất xám.
Cũng chính do cái nhầm về tiêu chí của hai nhà biên kịch này, khi từ năm 2005, đạo diễn cũng được tham gia, đã khiến đạo diễn Nguyễn Thước bức xúc. Sau khi dẫn chứng rằng đạo diễn Bùi Đình Hạc nhận giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2005, và đạo diễn Nguyễn Thanh Vân nhận Giải thưởng Nhà nước năm 2007, ông đạo diễn bị "khiếu kiện" đã "phản pháo":
"Việc các chị ấy nói tôi không phải người sáng tạo với phim là sai, vì người ta xem phim, có ai đọc kịch bản đâu. Đặc biệt là phim tài liệu, làm phim là quá trình thay đổi nhiều lần, thậm chí là nhận thức lại kịch bản. Đáng lẽ, khi nhận được giải thưởng dành cho biên kịch..., họ cũng nên cảm ơn tôi mới phải".
Đạo diễn Nguyễn Thước còn đi xa hơn, khi bóng gió rằng kịch bản nhiều khi cũng chỉ là những ý tưởng phác thảo thôi, còn đạo diễn phải phát triển nhiều lắm.
Người viết tìm đến nhà biên kịch Nguyễn Quang Lập, người được một đồng nghiệp khác, đồng thời cũng là một đạo diễn, là bà Nguyễn Thị Việt Nga nhắc đến như một "kẻ thiệt thòi" trong câu chuyện Giải thưởng Nhà nước của đạo diễn Nguyễn Thanh Vân, khi vị nữ tiến sĩ này gia nhập phe "biên kịch" chống lại phe "đạo diễn".
Ông Nguyễn Quang Lập trả lời qua điện thoại từ TP HCM:
"Theo tôi, không nên quan niệm ai là người có vai trò số một cả. Trong quan hệ giữa biên kịch và đạo diễn trong phim nên có quan hệ bình đẳng, như mối quan hệ của biên kịch và đạo diễn trong lĩnh vực sân khấu. Trên sân khấu, không ai nói vở kịch của ông đạo diễn cả, trong khi trong phim ảnh người ta luôn nói phim là của ông đạo diễn.
Còn nói cho nhanh, ông biên kịch là ông thiết kế, còn ông đạo diễn là tổng công trình sư. Ông tổng công trình sư vất vả lắm đấy, nhưng sáng tạo của ông là trên cơ sở bản thiết kế có sẵn. Ông tổng công trình sư cũng không thể nói "ngôi nhà" là của ông, mà chủ nhà, tức là nhà sản xuất, mới có quyền nói là nhà của ông ta.
Đạo diễn Nguyễn Thước và nhà biên kịch Phan Huyền Thư
Phim là của nhà sản xuất, còn ông đạo diễn và biên kịch chỉ là những ông làm thuê, và phải tuân thủ theo yêu cầu của nhà sản xuất.
Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nhấn mạnh tới sự vất vả, bao quát, và dấu ấn rõ nét nhất của đạo diễn, để ông ta có thể để tên mình đứng cạnh một bộ phim. Mặc dù, về bản chất, đó là tác phẩm của cả một tập thể."
Theo thiển nghĩ của người viết, chung qui cũng là do cái bộ (Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch) đã ra Thông tư qui định chi tiết về tiêu chuẩn, thủ tục, hồ sơ xét tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật (ra ngày 27.5.2010) chẳng rõ ràng, khiến cho các nhà đạo diễn, biên kịch đáng kính nói trên lại mang nhau ra làm khổ.
Trong thông tư này, điều 2 (giải thích từ ngữ) có viết:
5. Tác giả là người bằng lao động của mình trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình.
6. Đồng tác giả là nhiều người bằng lao động của mình cùng trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, công trình.
Thông tư đã qui định rõ như vậy về "tác giả" và "đồng tác giả", thế mà cái bộ ra thông tư này lại vẫn cho phép đạo diễn Nguyễn Thước một mình mang những tác phẩm mà mình chỉ là một trong các đồng tác giả đi nộp để được xét trao giải thưởng. Cả ba cùng mang đi có phải vui hơn, đoàn kết hơn không? Mặc dù, về giá trị vật chất, cái size chắc không hoành tráng bằng.
Để không có cái nuối tiếc rằng "một số người trong giới còn ngạc nhiên vì từ hàng chục năm trước, đạo diễn Nguyễn Thước - biên kịch Phan Huyền Thư đã được xem là một cặp bài trùng, và kịch bản của Phan Huyền Thư dường như là cảm hứng bất tận để vị đạo diễn này làm nên những bộ phim gây tiếng vang.
Thế nhưng, trong trường hợp này, lại có cái rắc rối khác. Nhà biên kịch Phan Thanh Tú đã nhận xét rằng "với những giải thưởng khiêm tốn như thế thật khó có thể trao giải thưởng Nhà nước cho cụm công trình này, chưa kể lại trao cho đạo diễn Nguyễn Thước".
Thảo nào, đạo diễn Nguyễn Thước đã lẳng lặng làm hồ sơ cho riêng mình, mà không muốn gây "liên luỵ" cho hai đồng nghiệp. Kể cũng tội cái thân ông, làm phúc mang tội!
Qua chuyện này, cũng hiểu thêm tại sao "Bọ Lập" (tên bạn bè gọi Nguyễn Quang Lập một cách thân mật) đã quyết chẳng "dây dưa" vào câu chuyện giải thưởng với đạo diễn Nguyễn Thanh Vân. Chắc "Bọ" nghĩ trong cuộc đời này có nhiều cái đáng làm hơn là cái việc tranh cãi vô bổ, tốn hơi sức, giấy mực đó.
Như theo dõi chặt chẽ những động thái gây hấn của Trung Quốc, và viết những bình luận, cảnh báo trên blog của mình, chẳng hạn.

Một số nhân sĩ gửi kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước

Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường, nhóm nhân sĩ kiến nghị.
Ngày 13/7/2011, 20 nhân sĩ, trí thức đã gửi bản kiến nghị đến Quốc hội và Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.
Bản kiến nghị gồm có 3 phần: phần 1 phân tích sâu về những sự kiện xảy ra gần đây trong quan hệ Việt - Trung, phần 2 nói về thực trạng còn nhiều bất cập trong nước và phần cuối cùng nêu 5 điểm kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Quốc hội.
Trong danh sách ký tên đính kèm bản kiến nghị, có nhiều tên tuổi như ông Hồ Uy Liêm (Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam (VUSTA)), Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh ( nguyên Đại sứ VN tại Trung Quốc), nhà nghiên cứu Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng), GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và công nghệ), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Lê Hiếu Đằng, Gs Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà văn Nguyên Ngọc, Ts Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đình An.
"Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị uy hiếp"
Trước tình hình Biển Đông nóng lên, nhóm nhân sĩ cho rằng, "Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng".
"Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là "công xưởng thế giới" và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài "trỗi dậy hòa bình", Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục...Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là "đường chữ U 9 đoạn", thường được gọi là "đường lưỡi bò", chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng "lưỡi bò" này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.
Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.
Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu  hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.
Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường...", bản kiến nghị viết.

Từ phân tích trên, nhóm nhân sĩ cho rằng "xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ".
Kiến nghị dẫn chứng: Nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng nhập siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan... được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường.
Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta.
Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.
Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn...
Theo các nhân sĩ trên, do "vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc... Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta...
Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới"
Các nhân sĩ này cho rằng: "cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường
Kiến nghị 5 điểm
Từ những phân tích trên, các nhân sĩ "khẩn thiết  kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị"
1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt - Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình ... Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.
2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.
3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay.
4. Kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.

Bá quyền với bản sắc Trung Quốc

Tác giả: Aaron L. Friedberg 

Trong suốt lịch sử, quan hệ giữa các nước đang chế ngự và các nước đang vươn lên không bao giờ là dễ dàng - và thường là dữ dội. Những nước hiện là cường quốc thì có khuynh hướng xem mình là cảnh vệ một trật tự quốc tế mà họ đã có công sáng lập và nhờ nó mà họ đang tiếp tục hưởng lợi.  Mặt khác,  những cường quốc đang vươn lên thì cảm thấy bị kiềm hãm, thậm chí bị lừa bịp, bởi tình trạng hiện hữu; họ đấu tranh chống lại tình trạng ấy để giành lấy cái mà họ cho rằng đúng ra là của họ. Thực vậy, câu chuyện này, với những ngụ ý kiểu Shakespeare về trẻ và già, vững mạnh và suy tàn, là thứ chuyện cỗ xưa nhất trong lịch sử còn ghi lại của loài người. Ngay từ thế kỷ 5 trước công nguyên nhà sử học vĩ đại người Hy Lạp Thucydides bắt đầu nghiên cứu về cuộc chiến tranh Peloponnesia với nhận xét tưởng chừng như đơn giản rằng nguyên nhân sâu xa nhất, thực nhất, của chiến tranh này là "sự lớn lên của sức mạnh Athena và sự sợ hãi mà nó gây cho Sparta."
Sự thật rằng quan hệ Mỹ-Trung là quan hệ cạnh tranh thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Song hai nước này không phải là hai cường quốc bất kỳ: Từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Mỹ là nước giàu nhất và mạnh nhất thế giới; Trung Quốc, khác thế, là quốc gia mà khả năng là tăng lên nhanh nhất. Mỹ vẫn còn là "số một," nhưng Trung Quốc đang nhanh chóng thu ngắn khoảng cách giữa họ và Mỹ.  Hậu quả của sự cạnh tranh này không thể là hệ trọng hơn, và đặc biệt là đầy tiềm năng đưa đến xung đột.
Ít nhất là dưới mắt các cường quốc hiện chế ngự, các nước đang lên có xu hướng là những kẻ gây rối. Khi khả năng của một nước gia tăng thì, nói chung, các lãnh đạo của nước ấy xác định lợi ích của họ một cách rộng rãi hơn, và muốn có ảnh hưởng nhiều hơn đối với những gì xảy ra xung quanh họ. Điều này có nghĩa là, thông thường, những nước đang lên không chỉ mưu đồ bảo vệ biên giới của họ mà còn muốn vượt ra ngoài biên giới ấy, có những biện pháp cần thiết để đảm bảo tiếp cận các thị trường, vật liệu và các đường giao thông, để bảo vệ công dân của họ đang làm việc xa nhà, bảo vệ các bạn bè và đồng minh nước ngoài của họ; để truyền bá các tôn giáo và ý thức hệ của họ; và để có những gì mà họ xem là quyền lợi chính đáng của họ trong những vấn đề khu vực và ở cả thế giới.
Khi các nước đang trổi lên bắt đầu mạnh dạn lên tiếng, họ thường cảm thấy phải thách thức các đường biên giới cố hữu, các thiết chế quốc tế và hệ thống tôn ti trật tự uy tín đã được sắp xếp khi họ còn tương đối yếu. Tương tự Nhật Bản cuối thế kỷ mười chín, hay Đức ở bước ngoặt sang thế kỷ hai mươi, các cường quốc mới nổi muốn tìm chỗ đứng dưới mặt trời. Tất nhiên điều này đặt họ đối đầu với các cường quốc hiện ngự trị  - cái gọi là các nước status quo (đang có)  - vốn là những nhà kiến trúc, những kẻ thừa hưởng chủ yếu, và những người bảo vệ chính của bất kỳ hệ thống quốc tế hiện hữu nào.
Những cọ sát phát sinh từ đó giữa các lợi ích của hai bên rất ít khi được giải quyết một cách hòa bình. Nhận thấy mối đe dọa đang lớn lên đối với vị thế của họ, các cường quốc hiện có ưu thế (hay một liên minh của các nước có địa vị ấy theo thực tế - status quo) đôi khi tấn công và hủy diệt một đối thủ trước khi đối thủ này có thể lớn lên và đủ mạnh để thành một nguy cơ. Vài cường quốc khác - mong tránh chiến tranh - đã theo một chính sách ngược lại: cố gắng xoa dịu những nước có khả năng thách thức mình, họ tìm cách thỏa mãn những đòi hỏi và tham vọng của nuớc ấy và tìm cách đưa các nước ấy vào trật tự quốc tế hiện hữu một cách hòa bình.
Ảnh minh họa: tinkinhte.com
Tuy nhiên, dù có chân thành đến mấy, những cố gắng này hầu như luôn luôn kết thúc trong thất bại. Đôi khi, lý do rõ ràng là vì những đòi hỏi của quốc gia đang lên. Như nước Đức của Adolf Hitler, một kẻ xâm lược có thể có những tham vọng quá lớn, đến mức các nước trong trật tự hiện hữu (status quo) không thể đáp ứng mà không thực tế trở thành kẻ phục tùng hay đưa dân tộc họ vào chỗ tự sát. Ngay khi những đòi hỏi của các nước đang lên là không quá lớn, các nước đang có ưu thế cũng thường rất khó chấp nhận nhượng bộ, do đó làm bừng thêm ngọn lửa oán giận và thất vọng của nước đang lên, hoặc quá hăm hở nhượng bộ, thì lại bồi dưỡng tham vọng của các nước này, khiến các đòi hỏi leo thang theo đường trôn ốc. Các chính sách nhượng bộ để xoa dịu mà thắng lợi có thể hiểu được về mặt lý thuyết, nhưng việc thực hiện chúng trong thực tế là rất khó khăn. Đó là lý do tại sao những thời kỳ chuyển tiếp  ̶  khi một cường quốc đang lên bắt đầu vượt các nước trước kia là vượt trội  ̶  đã luôn luôn được đánh dấu bằng chiến tranh.
Dù họ cẩn thận không nói thẳng, các nhà cầm quyền hiện nay của Trung Quốc có vẻ đang cố xây dựng quốc gia họ như cường quốc nổi trội ở Đông Á, và có lẽ cả châu Á nói chung. Mục đích là làm cho Trung Quốc thành nước mạnh nhất và có ảnh hưởng nhất trong vùng, một nước có khả năng ngăn chặn các cuộc tấn công và các mối đe dọa; giải quyết các tranh chấp lãnh thổ theo sở thích của Trung Quốc; ép buộc hoặc thuyết phục các nước khác chấp nhận những ý muốn của Trung Quốc trên những vấn đề từ thương mại và đầu tư đến liên minh và thỏa thuận căn cứ cho nước thứ ba, sự đối xử với Hoa kiều; và, ít nhất trong vài trường hợp, gây ảnh hưởng đến bản chất và thành phần chính phủ của các nước láng giềng. Bắc Kinh có thể không tìm cách chinh phục hay trực tiếp kiểm soát về mặt vật chất những nước xung quanh Trung Quốc, nhưng, chắc chắn là họ muốn thực hiện một dạng bá quyền khu vực, dù họ luôn luôn phủ nhận điều này.
Trung Quốc không là quốc gia duy nhất có những tham vọng như vậy. Xuyên suốt lịch sữ, bao giờ cũng có một tương quan chặt chẽ giữa một bên là sự tăng trưởng của cải nhanh chóng và sức mạnh tiềm năng của một nước, vùng địa lý của những quyền lợi của nước ấy, cường độ và sự đa dạng của những đe dọa đã biết đối với những lợi ích, và bên kia là mong muốn tăng cường các khả năng quân sự và dùng ảnh hưởng lớn hơn để bảo vệ chúng.  Chính sự tăng trưởng có xu hướng khuyến khích bành trướng, mà bành trường thì sẽ dẫn đến mất an ninh, và mất an ninh thì càng tăng thêm ước muốn có nhiều quyền lực hơn nữa. Mẫu hình này được thiết lập rất rõ trong thời trung cổ. Khi nhìn lại các thế kỷ mười chín và hai mươi, Samuel Huntington thấy rằng
mọi cường quốc lớn khác, Anh và Pháp, Đức và Nhật, Mỹ và Liên xô, đã gắn liền với sự bành trướng, yêu sách ra bên ngoài, và chủ nghĩa đế quốc trùng khớp với hoặc tiếp ngay theo sau những năm công nghiệp hóa và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng.
Đối với Trung Quốc, Huntington kết luận "không có lý do gì để nghĩ rằng việc có được sức mạnh quân sự và kinh tế không có những tác động tương tưˮ lên các chính sách của nước này.
Tất nhiên, cách hành xử trong quá khứ của các nước khác chỉ có tính gợi ý, khó là một chỉ dẫn chắc chắn đến tương lai. Chỉ vì các cường quốc khác đã cư xử cách nào đó không nhất thiết có nghĩa là Trung Quốc sẽ làm như vậy. Có lẽ, trong một thế giới mà thị trường là toàn cầu và có vũ khí hạt nhân, những nỗi lo sợ và tham vọng thúc đẩy các cường quốc nổi lên trước đây không còn mạnh mẽ như xưa. Có lẽ các lãnh đạo Trung Quốc đã học được từ lịch sử rằng những cường quốc mới nổi thường khuấy lên những bất mãn và chống đối.
Nhưng Trung Quốc không phải là một cường quốc mới nổi bất kỳ nào, và lịch sử của họ cho thêm một lý do để tin rằng họ sẽ tìm một hình thức ưu thắng nào đó trong khu vực. Trung Quốc là một dân tộc có một quá khứ lâu dài và tự hào như là một trung tâm chủ đạo của văn minh Đông Á.  Gần đây hơn, quốc gia này cũng có một kinh nghiệm ít vẻ vang hơn về sự đô hộ và nhục nhã trong tay ngọai xâm. Như một số nhà sử học gần đây đã vạch rõ, Trung Quốc không chỉ "nổi lên" mà còn trở về cái địa vị vượt trội trong khu vực mà có thời nó đã giữ, điều mà các lãnh đạo và nhiều người trong nhân dân của họ vẫn nghĩ là đương nhiên và thích đáng. Cái mong muốn phục hồi hệ thống lấy Hán làm trung tâm có thể nhất quán với điều mà nhà báo Martin Jacques mô tả như
một giả định phổ biến về phần người Trung Quốc, rằng địa vị tự nhiên của họ nằm ở trung tâm Đông Á, rằng nền văn minh của họ không ai trong khu vực sánh nổi, và rằng cái địa vị xứng đáng của họ mà lịch sử ban cho, sẽ được khôi phục vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Học giả bảo thủ Diêm Học Thông (Yan Xuetong) đặt vấn đề một cách ngắn gọn: Nhân dân Trung Quốc tự hào về quá khứ vinh quang của đất nước mình và tin rằng việc Trung Quốc rơi khỏi địa vị ưu việt là "một sai lầm lịch sử mà họ nên sửa chữa." Nếu có điều gì là đúng thì đó chính là cái "thế kỷ nhục nhã" mà Trung Quốc bạc nhược và dễ bị tổn thương càng làm cho việc theo đuổi quyền lực của họ thêm cấp bách. Với một dân tộc có một lịch sử như của Trung Quốc, việc giành lại một địa vị quyền lực vô địch không được xem một cách đơn giản là vấn đề tự hào mà đúng hơn như một điều kiện tiên quyết thiết yếu để tiếp tục tăng trưởng, an ninh và, rất có thể, sự sống còn.
Những mẫu hình ngấm ngầm của chính trị quyền lực như thế đang đẩy Mỹ và Trung Quốc vào chỗ nghi kỵ và tranh đua, nếu không nhất thiết là đến xung đột công khai. Nhưng câu chuyện này không chỉ có thế. Không như khẳng định của một số người theo chủ nghĩa thực tế, các vấn đề tư tưởng hệ ít nhất cũng quan trọng như vấn đề quyền lực trong việc quyết định tiến trình của các quan hệ giữa các quốc gia. Sự kiện Mỹ là một nền dân chủ tự do trong khi Trung Quốc vẫn còn là một chế độ toàn trị là một sức đẩy thêm rất mạnh cho sự tranh đua, một chướng ngại cho những quan hệ ổn định và hợp tác, và tự nó là một nguồn gốc của thù địch và nghi ngờ lẫn nhau.
Quan hệ giữa các xã hội dân chủ và không dân chủ luôn được thực hiện trong cái mà nhà chính trị học Michael Doyle mô tả là một "bầu không khí hiềm nghi", phần nào vì "nhận thức của các nước tự do rằng các nước không tự do luôn ở trong một tình trạng xâm lược gây hấn chống lại chính nhân dân của họ." Các nước dân chủ, nói ngắn gọn, xem các nước không dân chủ là ít chính đáng hơn bởi lẽ những nước sau này không có sự đồng ý mà dân chúng của họ được tự do tỏ bày. Đơn giản là, trong thâm tâm, phần lớn các công dân ở những nước dân chủ không tin rằng tất cả mọi quốc gia đều được tạo ra một cách bình đẳng, hoặc là mọi quốc gia đều đáng đuợc kính trọng như nhau, bất kể quốc gia ấy được cai trị như thế nào.
Nhìn dưới ánh sáng này, những tranh cãi Mỹ - Trung Quốc về những vấn đề như kiểm duyệt và tự do tôn giáo không chỉ gây khó chịu ngoài mặt -- những khó chịu có thể hóa giải hoặc rũ bỏ. Trái lại, chúng là triệu chứng của những khó khăn sâu hơn. Đối với đa số người Mỹ, sự vi phạm nhân quyền của Trung Quốc không chỉ tự nó đã là sai trái, nó còn là dấu hiệu mạnh mẽ của bản chất tởm gớm về đạo đức của chế độ Bắc Kinh. Trong khi Mỹ có thể giao dịch với một chính phủ như vậy ít ra về một số vấn đề, khả năng có một quan hệ nồng ấm, tin cậy nhau, là xa vời, ấy là nói nhẹ nhất.
Các xã hội dân chủ cũng có xu hướng xem các xã hội không dân chủ là, tự căn bản, không đáng tin và có khuynh hướng, một cách nguy hiểm, xâm lăng các nước khác. Vì những hành động của các nước không dân chủ được che phủ trong bí mật, những mưu toan, và toàn bộ thực lực quân sự của những nước này rất khó được nhận biết. Trong những năm gần đây, các quan chức Mỹ đã thúc ép đối tác Trung Quốc của họ phải minh bạch hơn về các chương trình quốc phòng, nhưng ít có hy vọng những yêu cầu này sẽ được đáp ứng theo bất kỳ cách nào có ý nghĩa. Thậm chí, nếu Bắc Kinh bỗng nhiên công bố ồ ạt những thông tin và những con số, thì các nhà phân tích Mỹ cũng sẽ nhìn chúng với thái độ nghi ngờ sâu sắc, săm soi các dữ liệu ấy để tìm ra những dấu hiệu dối trá và đánh lạc hướng. Và họ làm thế là đúng; chính phủ Trung Quốc tập quyền và kiểm soát ngặt nghèo được đặt vào ưu thế tốt hơn nhiều để làm những âm mưu như vậy, so với đối tác Mỹ của nó, vốn phân quyền, công khai và hay để lộ bí mật.
Khả năng bảo mật của các chính quyền không dân chủ cũng cho phép các quốc gia này dễ sử dụng vũ lực mà không báo trước. Từ năm 1949, các nhà cầm quyền Trung Quốc đã bộc lộ một thiên hướng đặc biệt về tấn công bất ngờ và đánh lừa. (Hãy nghĩ đến việc Bắc Kinh lao vào Chiến tranh Triều Tiên tháng Chạp năm 1950, hay cuộc tấn công Ấn Độ của họ vào tháng Mười 1962.) Khuynh hướng này có thể đã bắt rễ sâu trong văn hóa chiến lược Trung Quốc từ thời Tôn Tử, nhưng nó cũng hoàn toàn nhất quán với tính cách của chính sách đối nội hiện nay của nước này. Thật ra, hầu hết các nhà phân tích Mỹ quan ngại về bản chất chuyên chế của chính phủ Trung Quốc nhiều hơn là về văn hóa của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc là một xã hội dân chủ, có lẽ nền tảng văn hóa xã hội sâu xa của hành vi chiến lược và chính trị của nó có thể không khác nay là mấy, nhưng các nhà lập định kế hoạch của Mỹ có thể đỡ lo lắng hơn nhiều vì khả năng một nước Trung Quốc như thế có thể liều lĩnh thử một đòn tấn công như sét đánh trên các lực lượng và các căn cứ Mỹ ở tây Thái Bình Dương sẽ rất thấp hơn.
Những nỗi lo xâm lược như thế còn gia tăng bởi nhận định rằng chính cái lo lắng về sự thiếu tính chính đáng trong nội bộ có thể khiến các nước không dân chủ sẽ lái sự thất vọng và bất bình của dân chúng sang các kẻ thù bên ngoài. Chẳng hạn một số nhà quan sát phương Tây lo ngại rằng nếu nền kinh tế Trung Quốc suy sụp, nhà cầm quyền Trung Quốc có thể đổ lỗi cho nước ngoài, thậm chí ngụy tạo khủng hoảng với Đài Loan, Nhật Bản hoặc Mỹ để huy động dân của họ và chuyển sự tức giận của dân chúng sang một hướng khác. Dù chủ đích của Bắc Kinh thật sự là sao đi nữa, những cuộc đối đầu như thế có thể dễ dàng leo thang khỏi tầm kiểm soát.  Chẳng phải là lãnh đạo các nuớc dân chủ không bao giờ bị cám dỗ phiêu lưu quân sự ở nuớc ngòai. Tuy nhiên, vì hậu quả đối với họ là thấp hơn nhiều (bị bỏ phiếu bất tín nhiệm chứ không phải bị lật đổ và vào tù, hoặc xấu hơn nữa), ít có khả năng là họ sẽ mạo hiểm đến mức cực độ để bám giữ quyền lực của mình.
Sự nghi kỵ giữa Washington và Bắc Kinh không phải một chiều - và với lý do dễ hiểu. Các nhà cầm quyền hiện nay của Trung Quốc không coi mình là lãnh đạo phong trào cách mạng thế giới như trước đây, nhưng họ vẫn tin rằng họ đang dính vào một cuộc đấu tranh ý thức hệ, mặc dù trong cuộc đấu tranh ấy, cho đến gần đây họ đã hầu như hoàn toàn ở thế tự vệ. Trong khi họ xem những tuyên bố của Washington rằng Mỹ quan ngại về nhân quyền và các quyền tự do cá nhân là khá mỉa mai và có tính cơ hội, các nhà lãnh đạo Trung Quốc không nghi ngờ gì rằng Mỹ được thực tình thúc đẩy bởi hùng khí ý thức hệ. Nhìn từ Bắc Kinh, Washington là một cường quốc nguy hiểm, thánh chiến, phóng khóang, hầu như có tính đế quốc, một quốc gia không nghỉ yên chừng nào mà nó chưa thể áp đặt các quan điểm và lối sống của nó lên toàn hành tinh. Ai chưa nắm được nhu cầu này của Mỹ chỉ cần đọc những diễn văn của các quan chức Mỹ với những lời hứa hẹn mở rộng tầm ảnh hưởng của dân chủ và tẩy sạch thế giới khỏi bạo quyền.
Thật ra, chính vì ý thức hệ mà Mỹ có khuynh huớng nghi ngờ và thù địch Trung Quốc nhiều hơn là chỉ vì các lý do chiến lược, ý thức hệ cũng có xu hướng làm tăng ở Washington ý muốn sẵn sàng trợ giúp các quốc gia dân chủ khác khi những quốc gia dân chủ này cảm thấy bị đe dọa bởi quyền lực Trung Quốc, ngay cả khi sự trợ giúp này không phải là những gì mà những tính toán chính trị thực dụng thuần túy về những lợi ích của nó có vẻ đòi hỏi. Chính vì lẽ đó, không thể giải thích được sự giúp đỡ kiên trì - thật ra là đang sâu đậm hơn - cho Đài Loan trong những năm 1990 nếu không tham chiếu sự kiện là hòn đảo này đã phát triển từ một thành trì chuyên chế của phe chống cộng thành một nền dân chủ tự do. Bỏ đi những liên hệ cuối cùng của Mỹ với Đài Loan sẽ gỡ bỏ nguồn gây xích mích chủ yếu với Trung Quốc và một nguyên nhân tiềm tàng của chiến tranh. Một động thái như thế thậm chí vẫn có thể hiểu được nếu Đài Loan vẫn còn hiện ra trong mắt nhiều người Mỹ -- như nó đã hiện ra trong những năm 1970 -- như một nền độc tài tham nhũng và trấn áp. Nhưng sự kiện là Đài Loan ngày nay được coi như nền dân chủ chân chính (nếu không hoàn thiện) sẽ khiến Washington rất khó có khi nào tự ý bỏ rơi nó.
Sau khi nhìn thấy cách Mỹ đánh quỵ Liên Xô bằng sự kết hợp giữa đối đầu bên ngòai và lật đổ bên trong, từ cuối Chiến tranh Lạnh các nhà chiến lược Trung Quốc đã sợ rằng Washington có ý định làm như thế với họ. Niềm tin này làm méo mó nhận thức của Bắc Kinh hầu như về mọi khía cạnh của chính sách Mỹ đối với Trung Quốc, từ nhiệt tình giao hảo kinh tế đến những cố gắng cổ vũ sự phát triển hệ thống pháp luật của Trung Quốc. Niềm tin ấy cũng định hướng sự đánh giá của lãnh đạo Trung Quốc về những hoạt động của Mỹ khắp châu Á, những họat động mà Bắc Kinh tin là nhằm bao vây Trung Quốc bằng những nước dân chủ ủng hộ Mỹ, và điều đó tiêm nhiễm vào các chính sách của Trung Quốc chống lại ảnh hưởng ấy.
Với sự nổi lên của Trung Quốc trên vũ đài thế giới, nước này trở thành nguồn cảm hứng và hỗ trợ vật chất cho các nhà độc tài đang bị khó khăn ở Trung Đông, châu Phi và châu Mỹ Latin, cũng như châu Á - những người cầm cự cuối cùng của các chế độ phản dân chủ, những người đã được cho là trên đường rơi vào đống rác của lịch sử sau khi Liên Xô sụp đổ. Người Mỹ có thể tin từ lâu rằng điều kiện cần của tăng trưởng là quyền tự do chọn lựa trong lãnh vực kinh tế (điều được giả định là sẽ tất yếu mở rộng tự do chính trị), nhưng, ít nhất là hiện tại, Trung Hoa lục địa đã pha trộn thành công một nền cai trị độc tài với kinh tế thị trường. Nếu nước này đi đến chỗ được coi như đưa ra một mô hình phát triển thay thế (cho mô hình của Mỹ -- Người dịch) thì sự tiếp tục tăng trưởng của Trung Quốc dưới sự cai trị chuyên chế có thể làm phức tạp và làm chậm lại những cố gắng từ lâu của Mỹ nhằm khuyến khích truyền bá các thiết chế chính trị tự do khắp thế giới.
Nỗi lo sợ rằng Mỹ mưu toan thay đổi chế độ cũng có một vai trò ngày càng quan trọng trong việc họach định chính sách của Trung Quốc đối với các nước ở những vùng khác trên thế giới. Nếu Mỹ có thể làm áp lực và có lẽ hạ bệ các lãnh đạo hiện nay ở Venezuela, Zimbabwe và Iran, nó có thể trở nên táo bạo hơn trong cố gắng làm cái gì đó tương tự với Trung Quốc. Bằng cách giúp cho những chế độ này sống còn, Bắc Kinh có được bạn bè và đồng minh cho những cuộc đấu tương lai, làm yếu đi cái nhận thức rằng dân chủ đang trên đường tiến tới và làm chệch một số năng lực phi thường của Mỹ khỏi chính Trung Quốc. Những cố gắng của Washington làm cô lập, ép buộc và có thể làm xói mòn những nhà nước chuyên chế "hoang đàng" (như Iran và Bắc Triều Tiên) đã bị làm cho phức tạp nếu không nói là thất bại, bởi sự sốt sắng của Bắc Kinh gắn kết với chúng. Đồng thời, tất nhiên, những hành động của Trung Quốc cũng làm gia tăng mối lo ngại ở Washington về những động cơ và những dự định của nó, bằng cách đó đổ thêm dầu vào ngọn lửa tranh đua.
Có thể là, trong vị trí địa chính trị của Bắc Kinh, bất kỳ một cường quốc nào đang trổi lên cũng muốn có ảnh hưởng đáng kể trong khu vực kế cận với nước ấy. Cũng có thể là, với lịch sử của họ, và cho dù họ được cai trị như thế nào, Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến việc tự khẳng định mình và việc được láng giềng thừa nhận là đứng đầu giữa những kẻ ngang hàng. Nhưng cuối cùng thì chính đặc điểm chính trị nội bộ Trung Quốc là yếu tố quyết định chính xác cách Trung Quốc định nghĩa những mục tiêu của họ đối với thế giới bên ngòai, và phương cách theo đuổi mục tiêu ấy của họ
Như Ross Terrill của Trung tâm Fairbank Đại học Harvard nhận xét, khi chúng ta nói về các ý định hay chiến lược "của Trung Quốc", sự thật là chúng ta đang nói về các mục tiêu và kế hoạch của các lãnh đạo chóp bu hiện nay của nước này mà, như ông mô tả, là "chín ông kỷ sư làm thành Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc." (Ross Terrill, "What does China Want?" Wilson Quarterly. Mùa thu 2005). Tất cả những gì chúng ta biết về những người này cho thấy rằng họ được thúc đẩy trên hết bởi niềm tin của họ về sự cần thiết duy trì sự cầm quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Theo một nghĩa nào đó, điều này hoàn toàn là vì lợi ích của chính họ.
Những lãnh đạo hiện nay và gia đình họ được hưởng những đặc quyền và những cơ hội mà những người khác trong xã hội Trung Quốc không có được; những đặc quyền và cơ hội này xuất phát từ chính sự gần gủi của họ với cội nguồn của quyền lực chính trị. Sự kết thúc nhiều thập kỷ ngự trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ có những hậu quả lập tức, đau đớn và có lẽ bi thảm đối với những người đang có địa vị chóp bu của hệ thống. Những ngôi sao đang lên hy vọng một ngày nào đó sẽ chiếm những vị trí này và ngay cả những quan chức nhỏ với những tham vọng khiêm tốn có lẽ cũng tính tóan như vậy. Sự hội tụ quyền lợi cá nhân và một cảm giác chung số phận đem đến cho nhà nước-đảng này một sự dính kết mà nó sẽ không có nếu tình thế là khác hơn. Các đảng viên biết rằng nếu họ không đoàn kết với nhau họ rất có thể gặp nguy hiểm riêng rẽ - và điều hiểu biết này thấm nhiễm cách suy nghĩ của họ đối với mọi vấn đề mà họ đương đầu.
Nhưng động cơ để Đảng Cộng Sản Trung Quốc tiếp tục nắm giữ quyền hành không chỉ có gốc rễ trong lợi ích bản thân. Giới lãnh đạo của Đảng thành thực tin rằng Đảng đã có những thành tựu vẻ vang trong quá khứ và ở sự cần thiết không thể thiếu được của Đảng trong tương lai. Dù gì thì chính Đảng Cộng sản Trung Quốc đã giải cứu Trung Quốc khỏi ngọai xâm, đã đưa nước này ra khỏi một thế kỷ bị áp bức và nhục nhã, nâng Trung Quốc lên hàng những đại cường trên thế giới. Trong con mắt của những lãnh đạo của nước này, và một bộ phận nhân dân Trung Quốc, những thành tựu này tự bản thân chúng đã cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc thẩm quyền đạo đức duy nhất và chính đáng hóa sự cai trị của Đảng.
Nhìn về tương lai, các quan chức Đảng tin rằng chỉ có họ là đang đứng giữa một bên là tiếp tục ổn định, thịnh vượng, tiến bộ và vươn lên tầm vĩ đại không thể chặn lại, và một bên là quay lại với hỗn loạn và bạc nhược. Như một phân tích của hồ sơ cá nhân bí mật bị rò rỉ của "thế hệ thứ tư" các lãnh đạo Trung Quốc hiện nay (với Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình, và Giang Trạch Dân là ba thế hệ lãnh đạo đầu) của các nhà Trung Quốc học Andrew Nathan và Bruce Gilley cho thấy, về vấn đề này, không có dấu hiệu bất đồng hay nghi ngờ gì trong nội bộ Đảng. Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, các đồng nhiệm của ông và những người có khả năng kế tục ông thấy rõ nhiều thách thức cả trong lẫn ngòai mà họ đang đối diện, nhưng họ tin rằng họ, và chỉ có họ, mới có thể tìm ra giải pháp cần thiết để giữ cho đất nước của họ tiến lên và làm cho quốc gia này giành lại được số phận của nó. Quả thật, họ tin rằng chính tầm cỡ và sự phức tạp của những vấn đề đang đối diện với Trung Quốc là lý do khiến sự tiếp tục cầm quyền của họ là tuyệt đối cần thiết.
Ước muốn của Đảng tiếp tục cầm quyền định hình mọi khía cạnh của chính sách quốc gia. Về mặt đối ngoại, điều ấy có nghĩa là mục đích tối hậu của Bắc Kinh là "làm cho thế giới an toàn cho chủ nghĩa chuyên chế" hay ít nhất để tiếp tục chế độ độc đảng ở Trung Quốc. Trong nhiều thập kỷ gần đây, sự tập trung chú ý vào an toàn của chế độ đã dẫn đến, trước hết, việc duy trì những điều kiện quốc tế cần thiết để tiếp tục tăng trưởng kinh tế. Khả năng của Đảng trong việc nhanh chóng nâng cao thu nhập và phúc lợi cá nhân là thành tựu thật nhất trong ba mươi năm qua và là nguồn gốc của những đòi hỏi mạnh nhất của Đảng rằng nhân dân Trung Quốc phải biết ơn và trung thành với Đảng. Đồng nghiệp Thomas Christensen của tôi ở Princeton lập luận rằng, tăng trưởng kinh tế "tạo ra sự thỏa mãn và xao lãng của dân chúng, và, do đó thu được sự ủng hộ trong nước đối với Đảng (hay ít nhất cũng làm giảm sự tích cực chống đối)" Tăng trưởng còn tạo ra thu nhập mà chính phủ có thể dùng để "mua chuộc đối lập và tài trợ cho những địa phương nghèo và các vùng dân tộc thiểu số để cố gắng ngăn ngừa những cuộc nổi dậy có bạo lực."
Với một nước Trung Quốc đang trở nên giàu và mạnh hơn, sự theo đuổi an ninh của quốc gia này cũng đã dẫn họ tìm cách tăng cường kiểm soát thế giới bên ngoài. Sự "đẩy ra ngoài" này có động lực cả công lẫn thủ. Là người cai quản sự vĩ đại của dân tộc, Đảng có trách nhiệm đưa Trung Quốc trở về địa vị đúng của nước này ở trung tâm châu Á. Sự tôn trọng rõ ràng của những nước khác đối với Trung Quốc là bằng chứng thành công của chế độ về mặt này và gia tăng tính chính đáng của chế độ đối với nhân dân Trung Quốc. Đặc biệt, nếu tăng trưởng kinh tế có thể vấp ngã, thì sự "đứng lên" trước kẻ thù truyền thống và giải quyết vấn đề Đài Loan và các cuộc tranh chấp khác theo quan điểm của Bắc Kinh dễ trở thành những phần quan trọng trong chiến lược của Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhằm duy trì quyền lực của họ. Các lãnh đạo Trung Quốc tin rằng đất nước họ càng tỏ ra mạnh về mặt đối ngọai, thì chế độ của họ càng mạnh trong nước.
Ngược lại, nếu đối ngọai Trung Quốc có vẻ bạc nhược hoặc nhận thức phổ biến rằng nước này đã bị thua thiệt hay bị khinh bỉ, thì có thể là cực kỳ nguy hiểm đối với triển vọng tiếp tục cầm quyền của Đảng. Những lo lắng ngấm ngầm về tính chính đáng của Đảng khiến chế độ nhạy cảm hơn với sự khinh rẽ và thất bại, và càng khiến họ kiên quyết hơn trong việc ngăn chặn những thử thách và tránh thất bại. Sự bảo đảm tốt nhất chống lại những nguy cơ như thế đối với Trung Quốc là tích lũy một ưu thế sức mạnh áp đảo trong khu vực láng giềng của nuớc này.
Hơn nữa, sự cực kỳ nhạy cảm của Đảng Cộng Sản Trung Quốc đối với cái mà Đảng coi là "chủ nghĩa ly khai" là hậu quả trực tiếp của việc họ tin rằng họ phải duy trì kiểm soát tập trung ở mọi nơi mọi lúc. Vì thế, yêu sách tăng tự trị ở Tây Tạng và Tân Cương được xem như mối đe dọa "chết người" đối với sự thống nhất quốc gia và như vậy là đối với sự tiếp tục cầm quyền của Đảng. Chế độ này tin rằng nếu họ buông lơi dù chỉ một chút sự nắm chặt của họ thì cả nước sẽ vỡ tung. Các lãnh đạo Trung Quốc thấy cần phát triển đủ sức mạnh để ngăn chặn các nước láng giềng của họ cung cấp viện trợ và nhu yếu cho các nhóm ly khai và sẽ tạo ra những khả năng để can thiệp trực tiếp nhằm ngăn chặn chúng, nếu điều đó trở nên cần thiết.
Ngay khi Đảng mạnh hơn và, trong vài khía cạnh, tự tin hơn, họ vẫn tiếp tục lo sợ sự ô nhiễm tư tưởng. Các nước dễ bảo và đồng tâm nằm dọc theo biên giới của Trung Quốc có khả năng giúp Bắc Kinh đối phó với nguy cơ này rất nhiều hơn những quốc gia dân chủ phóng khoáng có quan hệ chặt chẽ với phương Tây. Mong muốn ngăn chặn "diễn biến hòa bình" trong nước cho chế độ một lý do thuyết phục hơn để muốn định hướng sự phát triển chính trị của các láng giềng của Trung Quốc.
Tóm lại: không phải những người cầm quyền hiện nay ở Trung Quốc mưu cầu ưu thế cho quốc gia của họ chỉ vì họ là lãnh đạo của một cường quốc đang lên, hay đơn giản vì họ là người Trung Quốc. Mong muốn thống trị và kiểm soát của họ, phần lớn, là một phó sản của loại hệ thống chính trị mà họ đang cầm đầu. Một Trung Quốc mạnh, dân chủ tự do, chắc chắn cũng sẽ tìm một vai trò lãnh đạo trong khu vực của nó và có lẽ một quyền phủ quyết trên thực tế đối với những sự phát triển mà quốc gia này cho là đi ngược những lợi ích của họ. Tuy nhiên, một chế độ (dân chủ tự do) như thế cũng sẽ ít sợ mất ổn định trong nưóc, ít cảm thấy bị đe dọa bởi sự hiện diện của các nước láng giềng dân chủ, và cũng có xu hướng tìm ủng hộ của dân chúng trong nước qua sự chế ngự và lệ thuộc của những nước khác.
Dù không phải ai cũng tin như thế, nhưng, cuối cùng, một nước Trung Quốc dân chủ hơn sẽ đem đến một môi trường hòa bình hơn, khó có chiến tranh hơn, ở châu Á. Theo quan điểm của nhiều người theo chủ nghĩa thực tế, những cải cách nội bộ sẽ chỉ làm cho Bắc Kinh phồn thịnh hơn, hùng cường hơn và vì vậy là một đối thủ cạnh tranh mạnh mẽ hơn mà không làm nước này chệch khỏi ý muốn thống trị Đông Á và giải quyết những tranh cãi với một số láng giềng của nó. Có một sự thật chắc chắn rằng ngay cả nếu trong dài hạn, Trung Quốc trở thành một nền dân chủ hòa bình và ổn định đi nữa thì cuộc chuyển đổi của nó cũng sẽ đầy chông gai. Việc mở cửa hệ thống chính trị của đất nước cho những bất đồng và tranh luận dễ đưa một yếu tố bất ổn vào chính sách đối ngoại của nó khi các tiếng nói khác được nghe và các lãnh đạo đầy tham vọng tranh giành nhau sự ủng hộ của dân chúng. Như một nhà quan sát, nhà kinh tế học David Hale buồn bã chỉ ra: "Một Trung Quốc chuyên chế có thể dễ dàng đoán trước. Một Trung Quốc mở cửa và dân chủ hơn có thể sinh ra những bất trắc mới trong cả chính sách đối nội và các quan hệ quốc tế."
Chủ nghĩa dân tộc, có lẽ dưới dạng độc hại và hung hăng nhất của nó, là một nhân tố có thể đóng vai trò nổi bật trong việc định hướng chính sách ngoại giao của một Trung Quốc (Middle Kingdom - vương quốc ở giữa) tự do hóa. Nhờ có sự lan tràn của mạng lưới Internet và nới lỏng kiềm chế trên ít nhất một số dạng biểu hiện chính trị của "lòng yêu nước", chế độ hiện nay đã thấy mình là đối tượng phê phán bất cứ khi nào nó giữ lập trường mà một số "cư dân mạng" cho là dễ dãi quá đáng đối với Nhật Bản, Đài Loan và Mỹ. Bắc Kinh lâu lâu lại tìm cách khuấy động tình cảm yêu nước, nhưng, sợ rằng cơn giận dữ đối với các nước ngoài cũng có thể dễ dàng quay trở lại chống lại đảng, chế độ cũng đã hết sức giữ gìn những cơn cuồng nhiệt của quần chúng trong vòng kiểm soát. Một chính phủ được bầu ra một cách dân chủ có thể ít rụt rè hơn nhiều. Nhà khoa học chính trị Fei Ling Wang cho rằng một chế độ hậu cộng sản thực tế sẽ mạnh hơn trong việc đòi chủ quyền đối với Đài Loan, Tây Tạng và Biển Nam Trung Quốc. Như ông giải thích:
Một chế độ ''dân chủ" ở Bắc Kinh, thoát khỏi những nỗi lo lắng làm suy nhược về sự sống còn của chính nó nhưng chắc chắn sẽ bị lôi kéo bởi những tình cảm của dân chúng, có thể làm cho cường quốc Trung Quốc đang lên thành một sức mạnh quả quyết, nôn nóng, tham chiến và hung hăng hơn, ít nhất trong thời kỳ bất ổn leo nhanh lên vị trí của một cường quốc đẳng cấp thế giới.
Điều cuối cùng là then chốt. Ngay cả những người tin tưởng nhất vào những tác động làm hòa dịu của quá trình dân chủ hóa cũng nhìn nhận khả năng của một cuộc chuyển đổi hỗn loạn. Trong tác phẩm Tương lai Dân chủ của Trung Quốc (China's Democratic Future), Bruce Gilley thừa nhận rằng các cuộc cách mạng dân chủ trong các nước khác thường dẫn đến bùng nổ các cuộc xâm lược nước ngoài, và ông nhận xét rằng từ đầu thế kỷ hai mươi, phong trào ủng hộ dân chủ ở Trung Quốc cũng có tính dân tộc chủ nghĩa cao độ. Dù có những tiền lệ này, Gilley tiên đoán rằng sau một quãng cách có lẽ một thập kỷ, một nước được chuyển đổi sẽ yên hàn đi vào những mối quan hệ hợp tác và ổn định hơn với Mỹ cũng như với các nước dân chủ láng giềng của nó.
Tất nhiên một kết quả như thế không hề là chắc chắn, và phụ thuộc vào những sự kiện và những tương tác khó biết trước và thậm chí khó kiểm soát. Nếu những va chạm ban đầu giữa một nền dân chủ non trẻ và những đối tác được thiết lập tốt hơn của nó bị xử lý tồi dẫn đến một cuộc xung đột vũ trang thật sự, lịch sử có thể xoay sang những hướng rất khác và ít hứa hẹn hơn nhiều [so với] nếu chúng được giải quyết thỏa đáng. Tuy nhiên, giả sử cuộc chuyển đổi có thể được dẫn hướng không gây ra thảm họa, có đầy đủ lý do để tin rằng các quan hệ sẽ được cải thiện với thời gian. Một người Trung Quốc ủng hộ cải cách chính trị, Liu Junning, đã tổng kết tóm tắt rõ ràng các viễn cảnh. Trong khi một nước Trung Quốc "dân tộc chủ nghĩa và độc tài" sẽ là một mối đe dọa đang hiện hình," thì một nước Trung Quốc dân chủ, tự do cuối cùng sẽ chứng tỏ là một "đối tác xây dựng."
Kỳ vọng này xuất phát  không phải chỉ từ sự viễn mơ. Khi các giá trị và các thiết chế của dân chủ tự do có đuợccmột nền móng vững chắc, sẽ bắt đầu có cuộc tranh biện công khai và có ý nghĩa chính trị và cuộc tranh đua thật sự giữa các mục tiêu quốc gia và sự phân phối tài nguyên của đất nước. Các nhà lãnh đạo có tham vọng và những người tạo dư luận lưu tâm đến uy tín, danh dự, quyền lực và thanh toán nợ nần sẽ phải cạnh tranh với những người khác, nhấn mạnh đến tính ưu việt của sự ổn định quốc tế, hợp tác, hòa giải và thúc đẩy tăng tiến phúc lợi xã hội. Những yêu cầu của quân đội và những liên minh công nghiệp của nó sẽ có những đối trọng, ít nhất đến một mức độ nào đó, bởi các nhóm muốn chi tiêu nhiều hơn vào giáo dục y tế và chăm sóc người già. Phiên bản dân tộc chủ nghĩa thái quá và quyết đoán của lịch sử Trung Quốc và những nỗi bất bình của nó sẽ bị thách thức bởi những quan điểm thừa nhận sự có tội của chế độ cũ trong việc đàn áp các dân tộc thiểu số và từ chối tìm kiếm sự dàn xếp trên các vấn đề chủ quyền. Một giàn lãnh đạo bị ám ảnh với sự sống còn của chính nó và với những mối đe dọa từ các cường quốc bên ngoài sẽ được thay thế bởi một chính phủ vững vàng trong tính chính đáng của nó và không có lý do gì để sợ rằng các nền dân chủ trên thế giới đang tìm cách bao vây và lật đổ nó.
Một nước Trung Quốc dân chủ có thể sẽ thấy dễ dàng sống hòa thuận với Nhật Bản, Ấn Độ, và Nam Triều Tiên, cùng nhiều nước khác. Sự tin cậy và tôn trọng lẫn nhau cuối cùng lớn lên giữa các nước dân chủ và xua tan nỗi sợ rằng người ta sẽ dùng sức mạnh chống lại nhau, sẽ làm tăng lợi thế của việc đạt được những dàn xếp thông qua thương lượng đối với những tranh chấp về biên giới, biển đảo và các nguồn tài nguyên. Một chính phủ dân chủ ở Bắc Kinh cũng sẽ đồng ý với một cơ hội tốt hơn để đạt được một giải pháp hai bên cùng chấp nhận cho sự xa cách sáu mươi năm với Đài Loan. Trái với những nhà cầm quyền Đảng Cộng Sản Trung Quốc hiện nay, một chế độ ở lục địa được dân bầu sẽ có thấy các cuộc xung đột ít có lợi cho họ hơn, chế độ ấy sẽ có nhiều khả năng bày tỏ sự tôn trọng đối với một chính phủ dân chủ khác được ưa thích hơn, và chế độ ấy cũng sẽ hấp dẫn hơn đối với nhân dân Đài Loan như một đối tác trong một số kiểu bố trí liên bang có thể sẽ thỏa mãn những mong muốn và xoa dịu những nỗi sợ hãi của cả hai bên.
Chừng nào mà Trung Quốc còn được cai trị như hiện nay, thì sự lớn lên của sức mạnh của quốc gia này còn đặt một thách thức sâu xa lên các quyền lợi của Mỹ. Nếu Mỹ muốn ngăn chặn xâm lược, ngăn cản áp bức và duy trì một trật tự mở, đa phương, thì Washington và các nước bạn và đồng minh của Mỹ sẽ phải hành động tích cực hơn, và hợp tác chặt chẽ hơn, để duy trì sự cân bằng thuận lợi của sức mạnh trong khu vực. Trong dài hạn, Mỹ có thể học cách sống với một nước Trung Quốc dân chủ như một cường quốc vượt trội ở Đông Á, như nước Anh đã đi đến chấp nhận Mỹ như một cường quốc vượt trội ở Tây Bán cầu. Từ nay đến ngày đó, Washington và Bắc Kinh sẽ vẫn còn bị hãm trong một cuộc đấu tranh ngày càng mãnh liệt để giành ngôi bá chủ ở châu Á.
  • Nguồn: National Interest (Tuần Việt Nam sử dụng bản dịch của Tạp chí Thời Đại Mới)

Cách tiếp cận chiến tranh của Trung Quốc (P1)

COPA AMERICA 2011 IN AGENTINA

Đêm nay liệu se la cuộc lật đổ ngoạn mục của uruquay trước ứng cử viên vô địch agentina tren svđ santa fe thành phố của những vũ điệu tango,hay là bản tango lạc nhịp của những vũ công nghiệp dư forlan,suares...trước những vũ sư đieu luyen messi,di maria,agero......



Trước trận Argentina - Uruguay: Trận chiến của 28 chiếc cúp

Thứ bảy, 16/07/2011 12:32 GMT+7
Điểm: (7/2)
28 chiếp cúp Copa America đã thuộc về Argentina và Uruguay. Trớ trêu thay, ngay ở tứ kết, họ đã sự loại nhau từ rất sớm trên con đường hướng tới chức vô địch thứ 15 của lịch sử.
Đối thủ lớn nhất của Argentina ở Nam Mỹ là Brazil song kẻ có thể cạnh tranh đội bóng giàu truyền thống nhất ở Copa America lại là Uruguay. Tính đến thời điểm này, hai đội bóng này đã cùng có 14 lần bước lên bục cao nhất của bóng đá Nam Mỹ. Đội xếp gần nhất là Brazil mới chỉ có 8. Điều đó có nghĩa nếu muốn đuổi kịp thành tích của Argentina và Uruguay, Brazil sẽ cần ít nhất 24 năm nữa (theo luật mới, Copa America diễn ra 4 năm 1 lần). Tất nhiên tham vọng này rất có trở thành hiện thực bởi sẽ rất khó để Brazil vô địch liên tiếp 6 giải đấu trước mắt.
Đến với Copa America lần này, Argentina và Uruguay cùng được xếp là những đội hạt giống ở hai bảng A và C. Nếu chơi với đúng thực lực, Argentina đã có tấm vé đầu bảng A (thuộc về Colombia) trong khi Uruguay cũng phải có vị trí tương tự ở bảng C thay vì Chile. Cũng bởi cùng kết thúc vòng bảng ở vị trí thứ 2 mà Argentina và Uruguay chạm trán ngay ở vòng đấu này. Với tên tuổi và danh tiếng của hai đội bóng (cùng 2 lần vô địch thế giới, cùng 14 lần vô địch Nam Mỹ) cho thấy đây là cặp đấu cân tài cân sức nhất ở tứ kết.
Về mặt con người, Argentina nhỉnh hơn Uruguay. Song đội bóng của HLV Tabarez lại có được lợi thế là sự thoải mái về mặt tinh thần. Uruguay không đặt nặng vấn đề thành tích ở thời điểm này. Việc họ khởi đầu chậm chạp là bởi hầu hết các vị trí đều chưa thoát khỏi sức ì sau khi đã có một mùa giải chinh chiến dài ở cấp CLB. Đây cũng là điều tương tự đang xảy ra với Argentina. Ngoài ra vấn đề khác của họ là áp lực. Chơi ngay trên sân nhà, sức ép buộc phải vô địch đã đè nặng lên đôi vai của các Albiceleste. Nếu họ không tự vượt qua chính mình, nguy cơ gục ngã là rất lớn.
Messi và Forlan, ai sẽ nổ súng?
Forlan, người đã 32 tuổi. Messi, người mới 24 tuổi. Giữa họ là sự khác nhau của cả một thế hệ nhưng bằng một cách nào đó, cả hai vẫn đang là những con bài quan trọng trong lối chơi ở ĐTQG của mình. Sau hai trận im lặng, Messi đã bắt đầu tỏa sáng. Anh vẫn chưa ghi bàn nhưng những đường chuyền tinh tế của anh chính là thứ vũ khí sắc nhọn nhất giúp Argentina hạ gục Costa Rica. Ở chiến thắng đó, Messi đã có 2 đường chuyền thành bàn và sẽ là hoàn hảo hơn, nếu anh có một bàn thắng.
Forlan cũng chưa ghi bàn. Trong vai trò "số 10" anh cũng chưa có một đường kiến tạo giúp lập công. Trước khung thành đối phương, Forlan vẫn vô duyên một cách kì lạ. Nhưng với HLV Tabarez, điều đó không quá quan trọng. Forlan vẫn năng nổ, vẫn nhiệt tình và điều quan trọng là anh vẫn là chiếc cầu nối quan trọng ở mọi đường lên bóng của Uruguay. So với Cavani, người đã có một mùa bóng chơi như "lên đồng" với Napoli rồi gây thất vọng nặng nề ở giải đấu này, Forlan cho thấy anh vẫn còn là một con bài không thể thiếu được trong lối chơi của Uruguay.
Sẽ chỉ có một tấm vé vào bán kết và nó sẽ dành cho đội bóng nào thăng hoa ở trận đấu này. Người Uruguay kì vọng vào Forlan với thứ phép màu anh đã tạo ra cho họ ở World Cup 2010. Trong khi đó, với Argentina, đã đến lúc Messi cần phải có được những bàn thắng. Sau khi đã tìm được chính mình ở trận đấu với Costa Rica, Messi liệu có tái hiện hình ảnh của anh, một cầu thủ vĩ đại của bóng đá thế kỉ 21 trong màu áo Barcelona?
Lực lượng
Uruguay: Khả năng ra sân của Cavani còn bỏ ngỏ
Argentina: Đầy đủ.
Đội hình dự kiến
Argentina: Romero- Zabaleta, G.Milito, Burdisso, Zanetti- Mascherano, Gago- Aguero, Messi, Di Maria - Higuain.
Uruguay: Muslera - Coates, Lugano, M. Pereira, A. Pereira, - Gonzalez, Perez, Arevalo, C. Rodriguez - Forlan, Suarez.
Dự đoán: 2-1

Và sau trận Argentina - Uruguay:

Argentina dừng bước ở tứ kết: Khi giấc mơ thêm dang dở 

- Sân nhà, dự giải với lực lượng mạnh nhất nhưng Argentina cũng chỉ đi đến tứ kết Copa America 2011. Thất bại 4-5 trên loạt đấu súng 11m trước Uruguay khiến cho giấc mơ của Albiceleste thêm một lần trở thành dang dở.
5 kì Copa America gần đây, chưa khi nào Argentina được đánh giá cao như là ứng cử viên số 1 cho danh hiệu vô địch đến thế. Trong khi đối thủ chính Brazil đang ở giai đoạn chuyển giao thế hệ, Argentina dự giải với tư cách chủ nhà. Họ còn có một lực lượng mạnh nhất với dàn sao thượng thừa đang chinh chiến ở châu Âu,  cùng "hiện tượng" của bóng đá thế giới trong vòng 3 năm qua: Lionel Messi.
Argentina dừng bước ở tứ kết Copa America 2011 - Ảnh Getty
Nhưng hi vọng thật nhiều thì cũng thất vọng thật nhiều, Messi đã không thể là chính anh như cái cách anh đã bùng nổ dữ dội trong màu áo Barcelona. Trước những đội bóng ở "chiếu dưới" của sự chênh lệch về đẳng cấp, Messi mờ nhạt trước Bolivia và Colombia, anh chỉ tỏa sáng trước "khách mời" Costa Rica. Nhưng 3 đường kiến tạo và không ghi được bàn thắng nào sau 4 trận đấu là một nỗi thất vọng ghê gớm. Messi vẫn là cầu thủ chơi hay nhất của Albiceleste. Anh chạy, anh sút, anh chuyền bóng vẫn nhiều nhất đội nhưng có lẽ, những gì tốt đẹp nhất của Messi đã ở lại với Barca. Còn ở Argentina, Messi chỉ là một vệt mờ. Anh bỏ lỡ ngay cả những cơ hội được cho là ngon ăn nhất...
Khi ngôi sao sáng nhất không thể hiện được mình đương nhiên người Argentina không thể hy vọng vào những ngôi sao khác. Pastore, Tevez, Aguero... những cầu thủ đang khiến cả thị trường chuyển nhượng châu Âu phải điên đảo với những lời đề nghị "bom tấn" chơi mờ nhạt. Di Maria hay Mascherano không khẳng định được vai trò của mình. Chiến thắng trước một Costa Rica quá yếu làm người ta lầm tưởng về sự thức dậy của một "con quái vật" đã ngủ quên. Nhưng trước Uruguay, không có "con quái vật" nào cả. Argentina đã chơi hơn người trong phần lớn thời gian trận đấu nhưng lối chơi của họ không mang đến cảm giác của một đội bóng có lợi thế về mặt nhân sự. Họ bất lực trong việc định đoạt số phận trận đấu để rồi tự "hạ sát" mình trên loạt đá luân lưu.
Bao giờ Argentina vô địch?
Khó lắm. Đúng là rất khó để trả lời cho câu hỏi ấy. Argentina đang cùng với Uruguay là đội có được 2 chức vô địch thế giới, cũng như 14 lần vô địch Nam Mỹ. Nhưng lần cuối cùng Argentina đăng quang ở cúp thế giới đã là năm 1986 và đã 18 năm qua, "ngôi vua" ở Nam Mỹ vẫn là một danh hiệu mà Albiceleste không thể với tới. Giải đấu nào Argentina cũng không thiếu những ngôi sao, nhưng chẳng giải đấu nào họ đi hết chặng đường để hoàn thành những giấc mơ của chính mình.
Năm 2010, khi Argentina của Diego Maradona dừng bước trước Đức ở tứ kết, "cậu bé vàng" là người phải nhận cơn phẫn nộ từ phía Liên đoàn bóng đá Argentina (AFA) cũng như người hâm mộ. Sau World Cup, Maradona bị sa thải và Sergio Batista lên nắm quyền. Khi Argentina có được những chiến thắng ở các loạt trận giao hữu, người Argentina bắt đầu đem Maradona và Batista ra để so sánh. Một số cho rằng "Cậu bé vàng" hay hơn, số khác lại cho rằng Batista mới là người xuất sắc. Con số ủng hộ Batista cao hơn so với Maradona bởi họ tin rằng dưới triều đại của cựu HLV đội Olympic Argentina, ông Batista sẽ giúp Messi tỏa sáng như cái cách ông đã đưa anh thăng hoa ở Olympic Bắc Kinh 2008 (Argentina là đội vô địch). Song rốt cuộc, Batista vẫn chỉ như Maradona, nếu không muốn nói là kém hơn.
Quay trở lại với câu hỏi "bao giờ Argentina sẽ vô địch", sau World Cup 2010, chưa một Albiceleste nào dám đưa ra câu trả lời. Và với thất bại ở Copa America 2011, vấn đề ấy càng trở nên mông lung và mờ mịt hơn. Argentina không bao giờ thiếu những ngôi sao nhưng vấn đề của họ là tính tập thể cũng như sự định hình về mặt lối chơi. Cứ sau mỗi thất bại, AFA lại tiến hành thay tướng và khi mỗi một HLV mới lên thay, lại có một cuộc cách mạng mới được diễn ra. Xu thế chung của bóng đá thế giới phải thế, nhưng liệu đã đến lúc AFA nên tính đến một sự thay đổi vĩ mô hơn, nhất là khi những giấc mơ của Argentina vẫn mãi dang dở?!
 

Argentina bị "đánh" tơi tả sau trận thua Uruguay 

Được đánh giá là ứng viên vô địch trước giải đấu, sở hữu trong đội hình rất nhiều ngôi sao sáng giá lại được đá trên sân nhà nhưng Argentina không thắng nổi Uruguay.
Đội bóng của Messi chơi hơn đối thủ 1 người trong phần lớn thời gian của hiệp 2 mà vẫn không làm nên chuyện. Bàn thắng không hơn đối thủ mà thẻ vàng Argentina lại nhiều hơn hẳn Uruguay (5 thẻ, không kể 2 thẻ vàng cho Mascherano). Tevez vừa dính thẻ vàng vừa đá hỏng quả penalty quyết định. Messi không thể hiện được những màn trình diễn huyền ảo như thường thấy ở Barca.
Tóm lại không có bất kỳ điểm tích cực nào cho Argentina ở trận này. Ấy vậy mà Batista vẫn nói cứng rằng "đây không phải là thất bại" và khẳng định ông "sẽ không từ chức". Đáp lại, các tờ báo bản địa thi nhau chỉ trích màn trình diễn kém cỏi của đội bóng 14 lần vô địch Nam Mỹ. "Một thất bại ở tầm quốc gia. Uruguay chiến thắng trong loạt penalty dù chơi thiếu người trong phần lớn thời gian của hiệp 2. Muslera làm được tất cả mọi thứ, đã chặn đứng cú sút penalty của Tevez. Tạm biệt giấc mơ vô địch". Đó là bình luận trên phiên bản điện tử của tờ Ole.
"Giấc mơ Argentina đã chết trong loạt penalty" là tiêu đề của bài viết trên trang Clarin.com. "Đội bóng thất bại 5-4 trước Uruguay. Muslera đánh bại Tevez. Argentina đã khởi đầu tốt nhưng sau đó vấp phải một đối thủ cáo già".
Tờ "La Nacion" viết: "Argentina đã phải chơi xổ số (đá penalty) và khiến tất cả bị sốc. Tevez sút penalty không thành công và nằm trong tâm bão. Lại một kỳ Copa America nữa trôi qua đầy thất vọng với Messi". Trong khi đó tờ "El Dia" bình luận: "Argentina trắng tay trên sân nhà. Chúng ta chơi hơn người gần như suốt hiệp 2 nhưng không tận dụng được lợi thế về quân số".